Một số điều cần biết khi phân tích bài thơ Tràng giang

Tràng giang là một trong những bài thơ nổi tiếng nhất của nhà thơ Huy Cận. Trước năm 1945, hồn thơ Huy Cận man mác một nỗi “sầu vạn kỷ” do chưa tìm được hướng đi cho riêng mình. Đây cũng là một nỗi buồn chung của trào lưu thơ mới, được  Hoài Thanh ví như một “dàn đồng ca sầu cho cuộc hòa nhạc tân kỳ sắp sửa”. Ở bài viết dưới đây, các bạn hãy cùng Vieclam123.vn phân tích bài thơ Tràng giang để có thể nhìn nhận tác phẩm này ở nhiều khía cạnh khác nhau nhé!

1.  Phân tích bài thơ Tràng giang qua nhan đề và lời đề từ

Là một tác phẩm đưa tên tuổi Huy Cận trở nên nổi tiếng trong trào lưu thơ mới, Tràng giang được dệt lên từ những thi liệu rất thân quen, thể hiện một tình yêu thiên nhiên, đất nước con người sâu nặng đồng thời còn thể hiện một nỗi buồn ưu thời mẫn thế của tác giả do chưa tìm được hướng đi, chưa được ánh sáng Cách Mạng soi đường, chỉ lối. Ngay từ nhan đề, Khi phân tích bài thơ Tràng giang chúng ta sẽ thấy rằng bài thơ đã thu hút được sự chú ý của độc giả với âm “ang” là âm mở, tạo nên ấn tượng về nỗi buồn da diết xuyên suốt mạch cảm xúc của toàn bài thơ. Hình ảnh sông nước không phải là hình ảnh mới trong thi ca, tuy nhiên, với vần “ang” kéo dài, người đọc như cảm nhận được cảm xúc trải dài vô tận, nỗi buồn mênh mông vô định như tuôn chảy theo không gian rộng lớn của dòng sông.

Nhan đề và lời đề từ của Tràng giang

Bên cạnh nhan đề, lời đề từ khi phân tích bài thơ Tràng giang có thể  được coi là bản lề để người đọc có thể thấu hiểu được tâm trạng của thi nhân. “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” là một lời tâm sự của hồn thơ lãng mạn Huy Cận. Không phải tiếng sáo thiên thai, không phải bờ tre,khóm trúc, không phải cảm giác hạnh phúc của tình yêu lứa đôi, đừng trước vũ trụ rộng lớn, con người cảm giác cô đơn lẻ chiếc, choáng ngợp so với tầm vóc của vũ trụ.  Lời đề từ có tác dụng gợi mở mạch cảm xúc của toàn bài thơ, và cũng là cảm hứng chủ đạo trong thơ Huy Cận. Hãy cùng tôi đi tìm hiểu và phân tích sâu hơn tác phẩm này ở những luận điểm tiếp theo nhé!

Ngữ Văn sẽ trở thành môn học yêu thích đối với các bạn học sinh khi tìm gia sư tại nhà để dạy kèm, các giáo viên sẽ hỗ trợ phân tích những áng văn và bài thơ một cách đơn khiến cho quá trình học tập trở nên nhẹ nhàng không còn áp lực nữa.

2. Phân tích bài thơ Tràng giang qua khổ thơ đầu tiên

Ở khổ thơ đầu tiên, Huy Cận vẽ ra trước mắt người đọc một không gian sóng nước bao la. Quả đúng như lời nhận xét “ Huy Cận đi lượm nhặt chút buồn rải rác để làm nên một nỗi sầu vạn kỷ”, khổ thơ mở ra hình ảnh con sông rộng lớn , mênh mông, vô tận. Với nghệ thuật sử dụng phép đối thành công, Huy Cận khắc họa rõ nét không gian bao la của dòng sông. Với luồng trôi lững lờ, dòng sông càng mênh mông hơn nhưng gợn sóng “điệp điệp”. Hình ảnh trước mắt gợi ra càng bao la, bát ngát, con thuyền càng đơn độc. Một nỗi buồn u uẩn phảng phất trong không gian. Ở hai câu thơ đầu Huy Cận đã rất thành công trong việc sử dụng phép đối, để không gian vừa có chiều rộng lại vừa dài vô định, mênh mông.

Phân tích khổ thơ đầu tràng giang

Câu thơ tiếp theo, Huy Cận tiếp tục khắc họa sầu chia ly của thuyền và nước. Hai hình ảnh này vốn là một thi liệu khá quen thuộc, nhưng ở đây, thuyền và nước không song hành với nhau như ở trong những bài thơ cổ. Nỗi sầu vạn kỷ càng được nhân lên gấp bội phần khi đọc đến câu “Thuyền về nước lại sầu trăm ngả”. Không gian vô định như nói lên hộ tâm trạng của lòng người chưa tìm được Lý tưởng cuộc sống. Hình ảnh củi khô trôi nổi trên dòng nước một lần nữa làm tăng tiến thêm mạch cảm xúc buồn thương, cô đơn trong toàn khổ thơ. Không phải hình ảnh mặt nước cánh bèo, không phải một cánh hoa trôi, thi liệu trong thơ là một hình ảnh vô cùng khô héo, cạn kiệt nhựa sống. Cành củi khô xuất hiện giữa mấy dòng nước không biết sẽ trôi dạt về đâu. Hình ảnh cành củi đã nói lên tâm trạng chung của cả một thế hệ khi đất nước vẫn trong màn đêm, chưa tìm được hướng đi riêng, và vẫn còn đang loay hoay giữa cuộc sống bộn bề. Huy Cận sử dụng rất thành công phép đối trong câu thơ đồng thời kết hợp khéo léo với nhịp thơ 3/3 tạo nên rõ sự cô đơn, lẻ chiếc của cành củi giữa bạt ngàn sóng nước. Như vậy, ở khổ thơ đầu tiên này, Huy Cận đã dựng lên một bức tranh buồn, nhuốm màu tâm trạng của cá một thế hệ. Toàn bộ bức tranh không hề có bất kỳ sự xuất hiện nào của con người, càng trở nên cô liêu, vắng vẻ, nỗi ảm đạm như xoáy sâu vào trong tâm khảm của người thi sĩ.

3. Phân tích bài thơ Tràng giang qua khổ thơ thứ hai

Nối tiếp mạch cảm xúc đó, là hình ảnh cảnh vật hai bên bờ sông đìu hiu, thiếu sức sống. Hình ảnh quen thuộc trong thơ cổ một lần nữa được Huy Cận sử dụng triệt để.

“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu”

Trước đây, trong Chinh Phụ Ngâm, ta đã từng bắt gặp hình ảnh cồn cát, gò đống đìu hiu như vậy.

“ Non Kì quạnh quẽ trăng treo

Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò”

Ở trong thơ Huy Cận, dòng sông không rõ tên, chỉ biết cảnh vật như mang màu sắc tâm trạng, hoang sơ và thiếu sức sống. Với cách sử dụng các từ láy có sức tượng hình rất cao, “lơ thơ”, “đìu hiu”, gợi lên sự thưa vắng, ít có dấu vết của sự sống con người. Nỗi u sầu đến mức tiếng chợ chiều cũng không còn nghe rõ. Từ “đâu” có thể là đâu đó văng vẳng lại, cũng có thể mang nghĩa phủ định “đâu có”.Cảm giác như mơ, như thực, không biết có tồn tại hay không. Phiên chợ chiều vốn dĩ đã thưa vắng, nhưng đến sự tồn tại của nó cũng vẫn còn khiến thi nhân phải nghi vấn. Trước sự rợn ngợp của thiên nhiên, con người trở nên bé nhỏ quá, đơn côi quá! Với một vài nét chấm phá, dùng thủ pháp cũ “ vẽ mây nẩy trăng”, Huy Cận đã tạo nên được một bức tranh quê nghèo xác xơ, thiếu sức sống, thiếu linh hồn.

Phân tích khổ thứ hai tràng giang

Đến hai câu thơ tiếp tầm nhìn như được mở rộng thêm ra, khoảng không như có độ giãn, được khắc họa cả ba chiều: chiều dài, chiều rộng và chiều cao. Cảm giác cảnh vật như có sự chuyển động “nắng xuống- trời lên”. Buổi chiều, nắng đang xuống dần, bầu trời như được kéo lên cao hơn. Với từ ngữ tượng hình “sâu chót vót” Huy Cận đã tạo nên một điểm nhấn riêng, đưa người đọc đến với không gian hai bên bờ vào buổi xế chiều. Rất ít người dùng từ “chót vót” để miêu tả chiều sâu.Ở đây, không phải sâu hun hút, sâu thăm thẳm, sâu thật đấy, nhưng lại mở ra cả chiều cao, chiều dài, chiều rộng như một bức họa 4D, kéo không gian càng trở nên vô tận vô cùng. Không gian ấy chính là cái nền, để nỗi niềm cô liêu ngày càng lan tỏa. Câu thơ cuối cùng như là hình ảnh bến nước cô liêu, không có sự xuất hiện của con người. Vũ trụ càng bao la, dòng sông càng rộng lớn, bầu trời chiều càng rộng, càng sâu, nỗi cô liêu ấy càng được nhấn mạnh hơn. Nỗi “sầu vạn cổ” chính là mạch cảm xúc xuyên suốt toàn bài thơ của Huy Cận.

Hiện nay nhiều sinh viên đang có nhu cầu tìm việc làm gia sư để nâng cao trình độ giảng dạy chính vì vậy Việc Làm 123 được xây dựng để giúp bạn đăng tin gia sư miễn phí và nhanh chóng.

4. Phân tích bài thơ Tràng giang qua khổ thơ thứ 3

Ở khổ thơ tiếp theo, cảnh vật vẫn tiếp tục gợi nên một không gian quạnh vắng. Đã có một chút chuyển động nhẹ của những cánh bèo trên dòng nước. Từ xưa, hình ảnh này vốn tượng trưng cho kiếp đời bấp bênh, chìm nổi, vô định. Đã vô định đến vậy, lại còn “hàng nối hàng”, từng lớp, từng lớp một không biết sẽ đi đâu, về đâu. Có lẽ chăng đây cũng chính là tâm trạng chung của một thế hệ, khi chưa được ánh sáng chỉ lối, soi đường! Trước không gian mênh mông, trôi nổi, vô định ấy, không hề có bất kỳ một dấu vết nào của sự sống, đến một con đò sang ngang cũng không có, một câu cầu bắc ngang cũng không. Từ bờ bên này đến bờ bên kia không có bất kỳ thứ gì kết nối. Hai từ không được sử dụng nối tiếp nhau, như nhấn mạnh thêm sự quạnh quẽ, không có lấy một chút “niềm thân mật”. Màu sắc được của bờ bãi khá tươi sáng nhưng lại bị án ngữ bởi cụm từ “lặng lẽ” đứng đầu câu. Hình ảnh không còn được sáng sủa như màu sắc nguyên thủy của nó nữa. Không gian đìu hiu như nhấn chìm cả sự trù phú của bờ bãi ven sông khiến tất cả  đều bị bao trùm bởi sự cô liêu.

Phân tích khổ 3 tràng giang

5. Phân tích bài thơ Tràng giang qua khổ thơ thứ 4

Nếu như ở các khổ thơ trên, là bức tranh thiên nhiên u sầu, thì ở khổ thơ cuối cùng chính là tâm tư, suy nghĩ của người thi nhân.

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa

Lòng quê dờn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”

Một lần nữa, các từ láy được sử dụng một cách vô cùng điêu luyện, có sức gợi rất lớn. Hình ảnh bầu trời chiều được khắc họa một cách vô cùng huy hoàng, là một điểm sáng trong toàn bài thơ. Cảm tưởng như các lớp mây đang chồng chất lớp lớp đè lên dãy núi bạc lúc hoàng hôn. Cánh chim như bị bóng chiều đè nặng xuống, như lòng người cô đơn, đang tìm phương hướng cho mình mà vẫn chưa biết phải đi về đâu.

phân tích khổ cuối tràng giang

Hai câu thơ cuối chính là nỗi niềm bao trùm toàn bộ cảm xúc của bài thơ. “Con nước” chính là hình ảnh gợi mở, để thi nhân hướng về tình yêu quê hương đất nước. Hơn ngàn năm trước,Thôi Hiệu cũng đã từng viết trong Hoàng Hạc Lâu “Yên ba giang thượng sử nhân sầu”. Ở đây, không có “yên ba” ( khói sóng), chỉ có sông, trời, cảnh chiều tàn, cũng đủ khiến cho thi nhân da diết nỗi nhớ nhà. Thôi Hiệu nhớ quê khi phải đi xa, ở đây, Huy Cận nhớ quê khi đang đứng ngay trên chính quê hương mình. Khi thời buổi ngày càng rối ren, sự bế tắc của giới thi nhân đã lên tới đỉnh điểm. Không có gì cô đơn hơn việc đứng ngay trên đất mình, giữa quê hương mình nhưng lại luôn thấy thiếu, thấy nhớ quê hương, nhớ những giá trị xưa cũ đã mất đi. Mượn tứ thơ cổ, nhưng Huy Cận lại thổi vào đó cái hồn riêng, để tạo nên một màu sắc riêng biệt của Tràng Giang, gửi gắm nỗi “sầu thiên thu” của một ”chiếc linh hồn nhỏ”.

Hy vọng với bài viết “Một số điều cần biết khi phân tích bài thơ Tràng giang” Vieclam123.vn có thể đem tới cho các bạn những thông tin hữu ích nhất!

>> Tham khảo thêm:

Founder gia sư 123 lê hồng hạnh

Founder LÊ HỒNG HẠNH

✅ 6 năm gia sư tiếng Anh tại nhà / trực tuyến

✅ Trực tiếp giảng dạy cho hơn 1500 học viên

✅ Chuyên tư vấn, kiểm duyệt, nâng cao kỹ năng cho hàng trăm gia sư giỏi

"Vieclam123 - Trang kết nối hiệu quả gia sư với phụ huynh cả nước, giúp tìm kiếm gia sư và lớp mới cần dạy kèm không qua trung gian, miễn phí"