home-logo.png
 Tìm kiếm nâng cao

Phân tích nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng

  By   Administrator   13/01/2020

Đề bài: Phân tích nhân vật ông hai trong truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân

Phân tích nhân vật ông Hai trong tác phẩm Làng

Bài làm:

Nhà văn Kim Lân, một cây bút vàng trong làng văn học dân gian Việt Nam, sinh ra trong một ngôi làng ở Bắc Ninh với truyền thống văn hóa yêu nước, yêu cách mạng sâu sắc. Ông nổi tiếng với những tác phẩm truyện ngắn viết về hình ảnh và đời sống sinh hoạt của người nông dân Việt Nam thế kỷ XX. Sự nghiệp thơ văn của Kim Lân tuy không quá đồ sộ nhưng lại có những điểm nhấn, nét độc đáo riêng việt. Một trong những tác phẩm thành công nhất của Kim Lân được viết vào thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp là tác phẩm “ Làng” của Kim Lân. Tác phẩm kể về nhân vật ông Hai, một người nông dân cần cù, chất phác, dành tình yêu to lớn với làng, với nước, được thể hiện thông qua những diễn biến tâm trạng, cuộc đấu tranh gay gắt trong nội tâm nhân vật.

Kim Lân từ xưa nổi tiếng là một cây bút độc đáo thấm đẫm tâm hồn Việt, là nhà văn xuất sắc những năm thế kỷ XX trong nền văn học Việt Nam. Làng được Kim Lân viết trong năm 1948 với bối cảnh được xây dựng thời kháng chiến chống Pháp, trong công cuộc tản cư của dân chúng. Ông Hai vốn là dân gốc của làng Chợ Dầu, vì mong muốn được cống hiến và phục vụ cho kháng chiến oanh liệt của dân tộc, ông và gia đình đã đi tản cư đến một vùng quê khác. Tại nơi xa xứ, ông Hai luôn đau đáu nỗi nhớ nhung dành cho quê nhà, cho cái làng thân thương với đầy ắp những kỷ niệm.

Trước hết, ông Hai là mẫu người điển hình cho một người nông dân thật thà, chất phác và nồng hậu. Rời bỏ cái nơi vốn đã gắn bó bao năm nay, tới nơi tản cư, ông Hai vẫn không khỏi quên đi hình bóng ngôi  làng của mình. Tới nơi ở mới, ông vẫn luôn muốn tìm lại những hồi ức tháng năm còn gắn bó với cái làng Chợ Dừa. Bởi vậy mà ông Hai rất hay kể cho nhà hàng xóm về làng Chợ Dầu vĩ đại, yêu quý của ông cùng những tâm tư, nghĩ suy về cuộc kháng chiến đầy gian khổ của dân tộc. Ở đây, ông Hai hàng ngày đi nghe báo, nghe chuyện từ mọi người về chủ đề kháng chiến. Ông liên tục mong muốn được cập nhật những thông tin tức thời nhất về diễn biến của cuộc kháng chiến. Điều này chứng tỏ rằng ông Hai là một người nông dân dành sự quan tâm rất đặc biệt, một tình yêu sâu sắc cho vận mệnh nước nhà, ông luôn đau đáu gánh nặng và nỗi khổ của dân tộc. Cái sở thích đi nghe báo của ông Hai rất đặc biệt, ở chỗ ông Hai không biết đọc chữ, hàng ngày ông chỉ đi nghe báo, tức là nghe lại lời đọc to của người khác khi họ đọc. Ông Hai rất ghét những anh bạn biết chữ mà đọc báo, không đọc to cho ông nghe ké, theo ông thì họ là những người thích “ ra vẻ ta đây”. Con người ông Hai thật thà, chất phác, dù không biết chữ nhưng cũng không ngăn nổi tinh thần ham nghe ngóng tin chính trị của ông. Ông Hai còn thích đi kể cho mọi người xung quanh, để ai ai cũng đang biết về thế sự thời cuộc, khi đi đính chính tin, ông Hai lại rất thích chơi chữ. Ông tự hào hô to với dân làng: “Toàn là sai sự mục đích cả…” , lối nói của ông Hai còn được thêm từ, theo cách ông Hai là người chơi chữ rất giỏi. Những nét tính cách độc đáo đó không làm cho mọi người xung quanh cảm thấy không hài lòng hay làm cho họ thay đổi cách nhìn về con người ông. Mà đây chỉ là một nét tính cách rất đáng yêu, đáng mến của người nông dân. 

Không những vậy, ông Hai còn là hình ảnh tiêu biểu, đáng quý cho người nông dân bởi lòng yêu nước nồng nàn, sâu nặng. Trước tới nay, với người nông dân, ngôi làng là một điều gì đó rất quan trọng với họ. Làng là nơi sinh ra của họ, là nơi có người thân, có ruộng đồng, từng tấc đất, tấc ruộng đều quý giá vô cùng. Làng là nơi gắn bó tự đời này qua đời khác của người nông dân, làng như tất cả những gì mà họ có, như máu thịt trên da vậy. Những năm trước cách mạng tháng tám, ông Hai cũng rơi vào tình trạng khốn khổ, nghèo túng, thuộc hạng “ khố rách áo ôm” nhất nhì trong làng. Ông Hai đã từng có lần bị những tên hương lý ở trong làng đuổi đi, trục xuất khỏi làng, ông phải lang thang khắp nơi, có những thời gian ông phải phiêu bạt xuống tận đất Sài Gòn để kiếm ăn qua ngày. Sau bao năm bôn ba, xa cách quê hương đi tha hương cầu thực, ông Hai đã trải qua bao cay đắng, khổ nhục. Hẳn không ai có thể thấu hiểu được nỗi nhớ quê hương nó đau thương, thấm được những khổ sở phải trải qua khi rời xa nơi chôn rau cắt rốn của mình bằng ông Hai, đặc biệt lại trong tình trạng đang tha hương cầu thực. Cứ thấy cách ông Hai ngày ngày đi kể, đi khoe với khắp mọi người về cái làng Chợ Dầu của mình là đã đủ chứng minh cho sự tự hào và tình yêu rất lớn của ông dành cho quê hương. Trước cách mạng, ông vui vẻ đầy hãnh diện khi đi khoe về cái dinh cơ của “cụ thượng”  làng ông mặc dù viên quan tổng đốc cũng không có họ hàng gì với ông. Tuy vậy, sau cách mạng, ông đã không còn hứng khởi cũng như không còn thích đi khoe về cái dinh cơ đó, bởi ông đã hiểu ra một điều, chính cái lăng thự đó đã làm cho người dân làng ông phải chịu khổ, làm ông phải khổ, phải ra cơ sự như bây giờ. Có thể chắc rằng tình yêu ông dành cho cái làng quê của ông rất lớn, vậy mà ông bị buộc phải rời xa nó, tưởng như phải rời xa đứa con thơ của mình, rời xa máu thịt của mình vậy. Xa quê, đau đáu nỗi nhớ quê khiến con người ông hay buồn khổ, sinh nỗi bực bội, “ ít nói, ít cười, cái mặt lúc nào cũng lầm lầm”. Ở nơi xa quê, ông lúc nào cũng nhớ lại những kỷ niệm vui vẻ khi cùng anh em, “ sao độ ấy vui thế”. Mỗi lần khi nhớ lại, những kỷ niệm đó làm ông phấn khởi, náo nức hẳn lên, ông tự thấy mình như trẻ ra. 

Đang trong niềm hân hoan tự hào về làng của mình, ông Hai điếng người, nghẹn ắng khi nghe tin đồn về làng Chợ Dầu của ông theo giặc. Trong lúc vui vẻ khoe về cái làng của ông, trong lúc mà “ ruột gan ông lão cứ múa cả lên, vui quá” thì ông nghe tin hung từ một người đàn bà tản cư. Mụ vừa cho con nhỏ bú, vừa ngấm nguýt kể về làng Chợ Dầu, mụ nói làng Chợ Dầu của ông chẳng có “ tinh thần” gì cả. Rằng cái làng của ông lại đi làm Việt gian, lúc này cổ lão như nghẹn ắng lại không thở nổi được, ông thất thần một lúc. Mất một lát đứng hình, ông cố trấn an bản thân mình, trong ông diễn ra một cuộc đấu tranh nội tâm dữ dội. Trong lòng ông luôn tin tưởng, kiêu hãnh tự hào về cái làng của mình, nhưng sao người đàn bà kia lại nói bằng cái giọng rất chắc chắn đến như vậy. Ông đánh trống lảng, ra về rồi trăn trở, mặt ông tê rân rân, lời người đàn bà khiến ông đau điếng người, như ruột gan ông thắt lại. Về nhà, ông tủi hổ, nghẹn ngào vô cùng, ông lo lắng chẳng lẽ con làng là dân Việt gian thật hay sao. Lúc này, tâm trạng ông Hai như bị giằng xé dữ dội, một bên là sự tin tưởng với cái làng, một bên là tin hung làng đi theo giặc. Mỗi lần ra ngoài, nghe đám đông tụm lại nói về làng Việt gian, ông Hai chỉ biết cúi gằm mặt mà đi, lúc nào cũng nơm nớp lo sợ người ta đang nhắc tới làng ông, khiến ông lo lắng, dằn vặt vô cùng. Trong lúc này, Kim Lâm đã diễn tả rất thành công về diễn biến tâm lí, đấu tranh gay gắt, dữ dội trong tâm trạng của ông Hai khiến ông rơi vào tình trạng đau xót tột cùng. 

Từ chỗ yêu làng của mình hết mực, tâm trạng ông Hai chuyển sang thù làng của mình. Sau những dằn vặt dữ dội trong nội tâm, ông Hai cuối cùng cũng lấy đủ dũng khí, nghe theo tiếng gọi của dân tộc mà từ dã cái làng ông vốn yêu mến, tự hào vô cùng. Ông Hai khẳng khái tuyên bố sẽ không về cái làng của ông nữa, vì “ chúng nó theo Tây cả rồi”. Với ông, bây giờ mà về làng là chịu kham theo giặc, là rời bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ, và với ông là không thể được. Nói ra được những lời này mà ruột gan ông đau quặn, “ nước mắt ông giàn ra”. làng thì ông yêu thật, nhưng làng mà theo giặc thì nhất quyết phải thù. Lúc này, tình yêu giữa ngôi làng của ông xung đột gay gắt với tình yêu đất nước khiến ông Hai rơi vào tình trạng đau đớn vô cùng. Tuy vậy, tình yêu nước của ông vô cùng lớn lao, vĩ đại, nó bao trùm lên trên cả tình yêu làng, ông đã xác định rõ ràng là như vậy, nhưng vẫn không thể chối bỏ được sự đau xót, tủi nhục. Ông tiếp tục rơi vào bế tắc hơn nữa khi tại đây, ông lại bị mụ chủ nhà nói xỉa, đánh tiếng hòng ý muốn đuổi gia đình ông đi. Không còn cách nào khác, ông Hai đành giãi bày tâm sự của mình với đứa con nhỏ ngây thơ. Ông nói với con, nhưng thực chất chính để tự trấn an tâm mình, tự nói với chính lòng mình. Ông muốn tỏ lòng yêu thương, nỗi nhớ dành cho ngôi làng nhưng bên cạnh đó là một lòng son sắc, hướng về Đảng, về cách mạng Việt Nam. Nói chuyện với con, lão như được giãi bày tâm can, làng thì yêu đó, nhưng tình yêu nước vẫn bao trùm lên tình yêu làng. Đoạn văn trên, Kim Lân đã xây dựng hình tượng một ông Hai son sắc với mệnh nước, với kháng chiến, với cụ Hồ. Những lời nói thốt ra từ cậu con trai như một lời thề đanh thép khẳng định cho tinh thần một lòng hướng về đất nước của ông.

Tiếp theo, tâm trạng ông Hai như sống lại bởi tin cải chính, rằng làng ông không phải Việt gian. Lúc này, ông Hai như sống lại thực sự. Tất cả những đau đớn, xót xa, tủi nhục như biến mất, thay vào đó, ông vui vẻ, hạnh phúc và phấn khởi vô cùng. Điều này hiện rõ trên nét mặt, cử chỉ và cả điệu cười của ông: “ mồm bỏm bẻm nhai, cặp mắt hung đỏ hấp háy”. Ông như được thổi vào một cơn gió hồi sinh. Và thế là ông lại tiếp tục đi khoe khắp nơi về ngôi làng của ông, rằng làng của ông bị Tây nó đốt sạch, rằng tất cả mọi bịa đặt về làng ông đều sai. Lúc này trong ông Hai ngập tràn niềm hồ hởi vì làng của ông đã được minh oan. Cái tin đó lại khiến ông yêu cái làng của mình, yêu kháng chiến đến vô bờ. 

Kim Lân đã cô cùng thành công khi khai thác diễn biến tâm lí nhân vật theo nhiều chiều sâu khác nhau, đặt vào những tình huống mâu thuẫn một cách ăn ý. Điều này giúp thể hiện tâm trạng nhân vật một cách tự nhiên, tài tình mà lại rất hợp lý qua biểu hiện, ngôn ngữ đối thoại, hành vi cử chỉ cũng như những dòng suy nghĩ độc thoại nội tâm. Cách dùng ngôn ngữ đậm chất dân gian, lời ăn tiếng nói của người nông dân. 

Hình tượng nhân vật ông Hai trong “ Làng” được Kim Lân vẽ lên thật tinh tế với nhiều cung bậc cảm, xúc khác nhau. Ông Hai, một người nông dân chất phác, hồn hậu, yêu làng, yêu nước vô cùng. Điều này cũng chứng tỏ cho những hiểu biết tinh tế, sâu sắc của Kim Lân về những người nông dân Việt Nam cũng như tài năng viết truyện của ông. 

Gia sư nổi bật
no image  Hồ Chí Minh
Kiều Hữu Dũng Gia sư môn:  Toán Thương lượng
Tạ Thu Lệ  Hà Nội
Tạ Thu Lệ Gia sư môn:  Toán , Hóa , Tiếng Việt Từ: 120,000 vnđ/buổi
Phạm Thị Huyền Trang  Hà Nội
Phạm Thị Huyền Trang Gia sư môn:  Toán , Tiếng Việt Từ: 100,000 vnđ/buổi
Đặng Vũ Thị Minh  Hà Nội
Đặng Vũ Thị Minh Gia sư môn:  Tiếng Việt Từ: 100,000 vnđ/buổi
Đặng Vũ Kiều Trang  Hà Nội
Đặng Vũ Kiều Trang Gia sư môn:  Văn , Tiếng Anh , Luyện chữ đẹp Từ: 120,000 vnđ/buổi
no image  Hà Giang
NGuyen van tai Gia sư môn:  Toán , Hóa Từ: 250,000 vnđ/buổi
Nguyễn Thị Nhiên  Hồ Chí Minh
Nguyễn Thị Nhiên Gia sư môn:  Toán , Lý , Hóa Từ: 180,000 vnđ/buổi
Xem thêm gia sư