home-logo.png
 Tìm kiếm nâng cao

Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu trích ngữ văn 12

  By   Administrator   21/12/2019

“Việt Bắc” được coi là kết tinh sở trường nghệ thuật thơ Tố Hữu, tiêu biểu cho phong cách sáng tác của ông. Hãy cùng vieclam123.vn tìm hiểu về nét đặc sắc trong khúc hát ân tình này qua bài phân tích bài thơ Việt Bắc nhé.

1. Dàn ý phân tích bài thơ “Việt Bắc”

1.1 Mở bàiGiới thiệu tác giả, tác phẩm

Tác giả: Tố Hữu tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, quê gốc ở Quảng Điền, Thừa Thiên Huế, xuất thân trong một gia đình nhà Nho, từ nhỏ đã được làm quen với các phép tắc trong thơ cổ, được nghe nhiều tục ngữ, ca dao, những làn điệu dân ca Huế, điều này đã ảnh hưởng rất nhiều đến phong cách sáng tác thơ của Tố Hữu sau này.

Tố Hữu sớm giác ngộ lí tưởng của đảng và tham gia hoạt động cách mạng ngay từ giai đoạn đầu. Trong kháng chiến, ông liên tục giữ những chức vị quan trọng, sự nghiệp cách mạng và sự nghiệp thơ của ông phát triển song song với nhau. Thơ của ông là thơ trữ tình cách mạng, ông phản ánh cuộc sống của nhân dân lao động trong kháng chiến, niềm vui tươi, hăm hở, tình yêu thiên nhiên, yêu đất nước tha thiết.

Tác phẩm: Tập thơ Việt Bắc được viết trong khoảng thời gian từ năm 1947 đến năm 1954, trong giai đoạn đất nước đang kháng chiến chống thực dân Pháp. Tập thơ “Việt Bắc” nói chung và bài thơ “Việt Bắc” nói riêng là bản anh hùng ca, phản ánh những chặng đường gian lao, vất vả nhưng cũng đầy tự hào, thấm đượm tình quân dân của dân tộc ta.

1.2 Thân bài: Phân tích tác phẩm

*Hoàn cảnh sáng tác 

Bài thơ được sáng tác tháng 10 năm 1954, sau khi dân tộc ta đã giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trung ương Đảng và chính phủ rời chiến khu Việt Bắc để trở về Hà Nội, 15 năm trọn vẹn nghĩa tình với mảnh đất và con người nơi đây, nay phải rời xa, biết bao cảm xúc không nói thành lời. Chính sự kiện có tính lịch sử này đã tạo cảm hứng để Tố Hữu chắp ngòi bút và sáng tác bài thơ “Việt Bắc”.

*Bố cục bài thơ Việt Bắc (Đoạn trích trong sách giáo khoa lớp 12)

*Tám câu thơ đầu tiên

+ Mở đầu bài thơ là tiếng hát ân tình thủy chung của “mình” và “ta”, cách gọi thân mật, tha thiết giữa “kẻ đi” và “người ở”, là những người đã từng gắn bó, trở thành gia đình, anh em cùng một nhà với nhau.

+ Một loạt các động từ chỉ sự gợi nhớ như “nhớ ta”, “thiết tha” “mặn nồng”, “nhớ không”, “nhớ núi”, “nhớ nguồn”, điệp từ nhớ được lặp lại 4 lần trong một khổ thơ ngắn gợi nhắc người đi về những kỉ niệm đã từng gắn bó.

+ Thời gian “15 năm ấy thiết tha mặn nồng”  chỉ một khoảng thời gian dài gắn bó, chiến đấu gian khổ, đã vun đắp nên bao tình cảm gắn bó sâu sắc của cán bộ, chiến sĩ cách mạng với người dân nơi đây. Quãng thời gian 15 năm ấy là cả một chặng đường, đủ để làm cho tình cảm với con người và mảnh đất nơi đây trở nên son sắt, mặn nồng, không thể nào lãng quên.

+ Mở rộng: Tình cảm gắn bó với đất, với người mà khi phải rời đi ta mới thấu cảm được hết cũng đã từng được Chế Lan Viên thể hiện qua những vần thơ:

“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở

Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”

+ Đại từ phiếm chỉ “ai” gợi lên nhiều cảm xúc, “tiếng ai” ở đây có thể là là tiếng lòng của kẻ ở, người đi, “tha thiết” “bâng khuâng”, “bồn chồn”  là tính từ khắc họa rõ hơn tình cảm gắn bó của người ra đi và kẻ ở lại.

+ ”Áo chàm”: là hình ảnh ẩn dụ cho những con người Việt Bắc, đây là trang phục truyển thống và là hình ảnh đặc trưng của con người nơi đây. Hình ảnh “áo chàm” rất dung dị, quen thuộc hiền hòa, phần nào thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của con người vùng núi rừng Tây Bắc.

+ ”Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”: Những tình cảm gắn bó dường như đã thể hiện hết trong quãng thời gian 15 năm mặn nồng ấy rồi, đến giờ phút biệt ly chỉ còn có thể nhìn nhau bịn rịn, mọi lời nói đều không thể thể hiện được hết tấm chân tình, vì vậy đã tạo nên khoảng lặng ngậm ngùi, nghẹn lòng trong thời khắc chia ly.

=>  Nhịp thơ 3/3/2 gợi lên một cảm xúc lưu luyến, dường như không đành lòng phân li, mọi cảm xúc, mọi kỉ niệm đã từng gắn bó dường như đang trực trào trong lòng của kẻ ở, người đi tạo thành một không khí của buổi phân li da diết đến nao lòng.

*12 câu thơ tiếp theo

+ Điệp từ “mình đi, mình về” “có nhớ” thể hiện dòng cảm xúc về từng kỉ niệm đang được ùa về trong tâm tưởng.

+ Các hình ảnh kỉ niệm “mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù”, “chiến khu”, “miếng cơm chấm muối”, “trám bùi để rụng, măng mai để già” “Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa”, “nhớ những nhà”, “nhớ núi non”.

+ Nghệ thuật đối “hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son” khẳng định một chân lý, càng gian khổ, tình cảm quân dân càng thêm đoàn kết, gắn bó.

=> Nghệ thuật nhân hóa, mọi cảnh vật ở núi rừng Việt Bắc dường như cũng có những nỗi nhớ đối với người ra đi “rừng núi nhớ ai”, những món ăn quen thuộc trong thời kì kháng chiến như trám bùi, măng mai cũng không còn ai ăn nữa nên “trám bùi để rụng, măng mai để già”

* 12 câu thơ tiếp theo: nỗi nhớ cảnh và người Việt Bắc

+ Lối đối đáp “mình-ta” tiếp tục được sử dụng trong đoạn thơ này, hình ảnh gợi nhắc kỷ niệm lại được tiếp tục liệt kê “nhớ từng bản khói cùng sương, “nhớ từng rừng nứa bờ tre”, “ngòi Thia”, “sông Đáy”, đều là những cảnh vật quen thuộc trên địa bàn vùng rừng núi phía Bắc.

+ Không chỉ nhớ thiên nhiên Việt Bắc, người ra đi còn nhớ cả những con người nơi đây, những con người trong nghèo khó, vất vả mà vẫn gắn bó tình nghĩa, thủy chung với cách mạng, nhớ những kỉ niệm đầy ắp vui tươi, ấm áp với người dân nơi đây.

+ Tình cảm với con người Việt Bắc còn là tình cảm của sự ân nghĩa, dạt dào và luôn đầy ắp như nước trong nguồn.

+ Điệp từ “nhớ từng” “ta nhớ”, “nhớ gì” khẳng định rằng người ra đi không hề quên bất cứ thứ gì đã từng gắn bó với mình trong quãng thời gian ở núi rừng Việt Bắc.

+ 10 câu thơ tiếp theo

+ Vẫn là những kỉ niệm gắn bó với con người Việt Bắc, hình ảnh những người mẹ, người chị “đan nón chuốt từng sợi giang”, nhớ cô em gái “hái măng một mình”.

+ Hình ảnh thiên nhiên Việt Bắc được thể hiện qua bức tranh bốn mùa, và hình ảnh nào cũng gắn bó với con người, người dân nơi đây hiền lành, giản dị chăm chỉ, yêu cuộc sống, yêu lao động, con người đầy ân tình, đồng cam cộng khổ với người chiến sĩ cách mạng. 

+ Hoa cùng người” là ý thơ thể hiện sự gắn bó không tách rời của thiên nhiên và con người, đây là hai đối tượng gắn bó hài hòa trong nỗi nhớ của người ra đi khi nhớ về Việt Bắc.

+ Bức tranh tứ bình về Việt Bắc được Tố Hữu khắc họa chỉ trong 8 câu thơ, bắt đầu bằng mùa đông Việt Bắc với màu xanh bạt ngàn của núi rừng, đâu đó điểm tô sắc đỏ của hoa chuối rừng, vì thế mà mùa đông nhưng không hề gợi cảm giác u tối, lạnh lẽo, hiu hắt mà lại có hơi ấm, có sức sống, ấm áp, gần gũi, thân thương.

* 10 câu thơ tiếp theo: nhớ Việt Bắc những tháng ngày chống giặc

+ Hình ảnh cả núi rừng Việt Bắc cùng chống giặc, đoàn quân kháng chiến, nhớ con sông, đỉnh đèo nhớ rừng núi Việt Bắc dường như cũng góp công sức trong công cuộc chống giặc.

=> Nhịp thơ ở những câu thơ mạnh, dồn dập, âm hưởng tạo nên bức tranh sử thi hoành tráng, ca ngợi những tháng ngày đoàn kết. đồng tâm hiệp lực chống quân thù của cả dân tộc Việt Nam.

* 12 câu thơ tiếp theo: không khí sôi động của cuộc chiến đấu

+ Đội quân chiến đấu ngày càng lớn mạnh, hình ảnh đoàn quân “điệp điệp trùng trùng” giống như những ngọn núi nơi núi rừng Tây Bắc cứ nối tiếp nhau không có điểm dừng. 

+ Những bước chân trong đêm “bước chân nát đá”, cùng với ngọn đuốc sáng rực có tàn hoa bay soi đường thể hiện sức mạnh của lực lượng đông đảo, trái tim quyết thắng cùng niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của Đảng và chiến thắng của dân tộc.

=> Đoạn thơ với những hình ảnh so sánh độc đáo, sáng tạo, nhịp thơ dồn dập thể hiện sức mạnh của đoàn quân kháng chiến cũng như niềm tin mãnh liệt vào chiến thắng của dân tộc.

*16 câu thơ cuối

+Đoạn thơ một lần nữa khẳng định Việt Bắc là quân khu kháng chiến, là nơi diễn ra toàn bộ hoạt động của cách mạng. Những địa danh lịch sử như “mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào” sẽ luôn còn mãi trong trí nhớ của cả người ra đi và người ở lại.

1.3 Kết bài

Tổng kết giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm “Việt Bắc”

Giá trị nội dung: Việt Bắc là khúc ca hoành tráng và cũng là bản tổng kết những ân tình, kỉ niệm giữa cách mạng với người dân nơi đây trong quãng thời gian 15 năm gắn bó kháng chiến chống thực dân Pháp.

Giá trị nghệ thuật: Bài thơ được viết theo thể thơ lục bát, sáng tác theo hình thức đối đáp của hai chủ thể trữ tình “kẻ đi”, “người ở”, bút pháp nghệ thuật độc đáo, hình ảnh dung dị, quen thuộc, đậm đà tính dân tộc, nhịp thơ uyển chuyển, dễ đi vào lòng người và để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc.

2. Bài mẫu phân tích bài thơ “Việt Bắc”

Đề bài: Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu trích ngữ văn 12 để thấy được vẻ đẹp thiên nhiên thơ mộng gắn với 1 thời kháng chiến gian khổ nhưng đằm thắm tình người

Phân tích bài thơ việt bắc

Mở bài:

Việt Bắc là một trong những tác phẩm quan trọng trong chương trình Ngữ Văn 12, đặc biệt là trong kì thi THPT Quốc Gia. Hãy cũng phân tích nội dung và nghệ thuật của đoạn trích Việt Bắc của Tố Hữu.

Thân bài:

Tố Hữu là một trong những nhà thơ tiêu biểu của nền thơ ca Việt Nam nói chung và nền thơ ca cách mạng nói riêng, thơ của ông luôn song hành cùng với những cột mốc cách mạng của dân tộc. Đặc biệt, bài thơ Việt Bắc được in trong tập thơ cùng tên được xem là một đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cùng là một tác phẩm xuất sắc của văn học Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Việt Bắc là mở đầu phần I của bài thơ Việt Bắc vốn dĩ viết về hoàn cảnh chia tay của quân và dân ta đầy lưu luyến, bịn rịn giữa kẻ ở - người đi, những con người đã từng gắn bó lâu dài (15 năm từ 1945 - 1954) với biết bao nghĩa tình sâu nặng sau chiến thắng 1954. Tác phẩm này chất chứa trọn vẹn phong cách thơ đặc trưng của Tố Hữu – bài ca trữ tình chính trị với tính đậm đà dân tộc được thể hiện đặc sắc qua cả nội dung và nghệ thuật.

Mở đầu là lời của Việt Bắc, là lời của người ở lại như thể hiện sự níu kéo đầy tiếc nuối với người ra đi:

“ Mình về mình có nhớ ta?

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

Mình về mình có nhớ không?

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”

Câu hỏi tu từ “mình có nhớ ta”, “mình có nhớ không” tưởng chừng là không sâu sắc nhưng đây chính là lời ướm hỏi, nhắc nhở về kỉ niệm 15 năm ân tình, muốn khơi gợi kỉ niệm trong lòng của người ra đi. Những cặp tình nhân, những đôi trai gái khi xa nhau đều tha thiết mà nói lời này. Cặp đại từ mình – ta khiến liên tưởng đến những câu ca dao đối đáp trao duyên, ở đây Tố Hữu đã mượn hình thức đối đáp bình dị này, còn nội dung thì đổi mới sáng sự ý thức về cội nguồn, cội nguồn của những kỉ niệm trong những ngày tháng kháng chiến hay tình cảm quân dân. Cặp đại từ này cũng thể hiện được phần nào sự gắn bó thân mật đầy yêu thương của quân dân ta. “Mười lăm năm ấy” là quãng thời gian gắn bó giữa Việt Bắc với cán bộ cách mạng kết hợp với cụm từ chỉ sắc thái tâm trạng “thiết tha mặn nồng” thể hiện mối quan hệ này bao nhiêu ân tình, bao nhiêu kỉ niệm khó quên. Điệp từ “nhớ” lặp đi lặp lại mang sự tha thiết, day dứt và trăn trở trong nỗi nhớ đối với những người, những kỉ niệm đã từng gắn bó.  Nghệ thuật liệt kê kết hợp các cặp từ sóng đôi: cây – núi, sông – nguồn như muốn nhắn nhủ và khẳng định mối quan hệ này không thể tách rời như cây với núi, như sông với nguồn và đây cũng chính là hình ảnh cội nguồn của những kỉ niệm, những nỗi nhớ gắn bó với núi rừng Việt Bắc.

Ở những câu tiếp theo chính là lời đáp của người ra đi, lời của cán bộ cách mạng đối với Việt Bắc cũng bày tỏ tâm trạng bâng khuâng, lưu luyến trong buổi phân li:

“Tiếng ai tha thiết bên cồn 

Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”

Sử dụng các từ láy “tha thiết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn” cùng với cử chỉ “cầm tay nhau” diễn tả tâm trạng xúc động, lưu luyến đến nghẹn ngào không nói nên lời. Dùng lối nói phiếm chỉ “tiếng ai” kết hợp hình ảnh hoán dụ “áo chàm” gợi hình ảnh đồng bào Việt Bắc, gần gũi, thân thương, nghĩa tình. Kết thúc bằng hình thức câu bỏ lửng “…”, nhịp thơ 3/3/2 thể hiện một tâm trạng không thể lý giải được, không đành lòng để cho người đi, làm chực trào nhớ thương những kỉ niệm. Buổi phân ly da diết đến nao lòng…

Những câu hỏi của Việt Bắc khiến những kỉ niệm ở vùng đất này ùa về dồn dập đến choáng ngợp: 

“Mình đi, có nhớ những ngày

Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù?

Mình về, có nhớ chiến khu

Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?

Mình về, rừng núi nhớ ai

Trám bùi để rụng, măng mai để già

Mình đi, có nhớ những nhà

Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son

Mình về, còn nhớ núi non

Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh

Mình đi, mình có nhớ mình

Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?”

Gợi kỉ niệm về những ngày tháng gian khổ với “mưa nguồn suối lũ”, “mây cùng mù”, rồi những kỉ niệm về những ngày đầu cách mạng gian khổ, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi, đồng cam cộng khổ “ miếng cơm chấm muối , mối thù nặng vai”. Có như không mà nhắc đến tình cảm ân tình, thủy chung, ấm áp “hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son”, gợi nhớ đến những cao trào cách mạng, những địa danh thiêng liêng của lịch sử đất nước “nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh”, “Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa”. Lời Việt Bắc hỏi chính là để đánh thức, nhắc nhở người về xuôi đừng quên những kỷ niệm. Song bên cạnh đó cũng là để bày tỏ tâm trạng. Sự nhớ thương, trống vắng trong lòng kẻ ở lại: “rừng núi nhớ ai”, “trám bùi để rụng, măng mai để già”, những điệp ngữ “mình đi – có nhớ”, “mình về - có nhớ”,… vang lên một cách dồn dập liên tiếp đã nói lên điều đó. Sự lo âu, băn khoăn liệu người ra đi có còn nhớ, có còn giữ những kỉ niệm xưa hay là sẽ chối bỏ, sẽ lãng quên: “mình đi, mình có nhớ mình?”. Nghệ thuật nhân hóa cùng hoàng loạt điệp ngữ kết hợp cùng bao hoài niệm tha thiết đã cho thấy hình ảnh người ở lại bâng khuâng thương nhớ với cảm giác chưa nguôi đầy lưu luyến trong phút chia li.

“Ta với mình, mình với ta

Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

Mình đi, mình lại nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu...

Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.

Nhớ từng rừng nứa bờ tre

Ngòi Thia sông Ðáy, suối Lê vơi đầy

Ta đi, ta nhớ những ngày

Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi...”

Hai đại từ ta – mình cứ ở gần nhau mà quấn quýt không rời “Ta với mình, mình với ta” thật là nồng nàn. Không phân ý nghĩa ra là riêng mà nhập thành một khẳng định sự thủy chung son sắt. Nguồn với nước dào dạt bao nhiêu thì ta với mình nghĩa tình bấy nhiêu, và ai cũng biết nguồn với nước là bất tận “Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu”.. Phép điệp cấu trúc kết hợp với điệp ngữ đặt ở đầu câu: nhớ gì, nhớ từng… khẳng định người ra đi không quên bất cứ một hình ảnh nào ở Việt Bắc, ở thiên nhiên Việt Bắc và ở con người nơi đây. 

Hình ảnh thiên nhiên hùng vĩ của Việt Bắc

Thiên nhiên Việt Bắc là một thiên nhiên mênh mông, hùng vĩ, đầy sức sống, là một thiên nhiên vừa hiện thực vừa thơ mộng mang nét đặc trưng của Việt Bắc: trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương,… Hình ảnh thiên nhiên luôn hòa quyện thắm thiết với con người. Nhớ con người Việt Bắc luôn gắn bó với thiên nhiên, luôn chăm chỉ, gần gũi, tràn đầy năng lượng, sức sống luôn lạc quan, yêu đời, yêu lao động. Con người đầy ân tình, đồng cam cộng khổ gắn bó với chiến sĩ cách mạng. Cũng nhớ người Việt Bắc lam lũ đầy cơ cực, vất vả. Nhớ con người Việt Bắc như vậy thể hiện sự xót xa của tác giả với những cực khổ của đồng bào Việt Bắc. Rồi lại nhớ cuộc sống và những ngày tháng sinh hoạt ở chiến khu. Dù cuộc sống kháng chiến có gian khổ, thiếu thốn nhưng vẫn lạc quan, yêu đời: những sinh hoạt học tập, liên hoan,.. không gian thanh bình, êm đềm.

Một trong những đặc sắc của Việt Bắc chính là bức tranh tứ bình đầy màu sắc. Qua lời kể của các anh chiến sĩ bức tranh thiên nhiên hiện lên một cách sinh động, đầy rực rỡ:

“Ta về, mình có nhớ ta

Ta về ta nhớ những hoa cùng người

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.”

Người ra đi khẳng định nỗi nhớ trong lòng mình, hình ảnh “hoa cùng người” cho thấy thiên nhiên và con người Việt Bắc luôn gắn bó hài hòa là đối tượng của nỗi nhớ. Mùa đông nơi đây là màu xanh bạt ngàn của núi rừng Việt Bắc, đâu đó được điểm tô và thắp sáng bởi màu đỏ tươi của hoa chuối, câu thơ tả cảnh mùa đông nhưng không hề có cảm giác lạnh lẽo, ảm đạm. Hình ảnh “hoa chuối đỏ tươi” như xua đi cái lạnh lẽo nơi núi rừng mang lại cảm giác ấm áp, gần gũi, thân thương. Nơi đây hình ảnh con người xuất hiện với tư thế bản lĩnh đầy tự tin nơi đèo cao, con dao đi rừng phản quang bởi ánh mặt trời chiếu vào làm hình ảnh của con người rực sáng trở thành trung tâm bức tranh. Mùa xuân thơ mộng với màu trắng tinh khiết của hoa mơ, cả núi rừng tràn ngập một màu trắng. “Nở trắng rừng” tạo ấn tượng mạnh mẽ, dường như màu sắc vận động khoác lên Việt Bắc một tấm áo mới. Hình ảnh đầy sức sống bừng dậy cho thấy tâm trạng náo nức khi mùa xuân tới. Thời gian này con người Việt Bắc hiện lên bởi hình tượng chăm chỉ, cần mẫn, khéo léo tạo ra những sản phẩm làm giàu cho Việt Bắc đóng góp cho kháng chiến. Xuân qua thì hè đến, hình ảnh thơ mang âm thanh rộn ràng của ve và màu vàng rực rỡ của hoa phách, tiếng ve vang động như khiến cho rừng cây đổ vàng đồng loạt. Con người Việt Bắc xuất hiện giữa tiếng ve và màu sắc rực rỡ của hoa phách trong tư thế lao động đời thường gợi cảm giác trữ tình thơ mộng. Mùa thu được gợi lên bởi những hình ảnh đậm chất cổ điển mang phong vị thơ Đường, không khí thanh bình, yên ả vẻ đẹp thơ mộng, êm đềm cùng với ánh trăng. Con người xuất hiện cùng tiếng hát ân tình thủy chung gợi sự lạc quan yêu đời và tình cảm ân tình, gắn bó.

“Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây

Núi giăng thành lũy sắt dày

Rừng che bộ đội rừng vây quân thù

Mênh mông bốn mặt sương mù

Ðất trời ta cả chiến khu một lòng.

Ai về ai có nhớ không?

Ta về ta nhớ Phủ Thông, đèo Giàng

Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng

Nhớ từ Cao-Lạng nhớ sang Nhị Hà...”

Vào giai đoạn đầu khi cách mạng còn yếu thì thiên nhiên Việt Bắc với rừng núi mênh mông, hùng vĩ trở thành bạn của quân dân ta, chở che cho bộ đội ta, cùng quân và dân ta “ vây”, “đánh” giặc. Tố Hữu sử dụng biện pháp nhân hóa khiến thiên nhiên Việt Bắc sinh động hơn, có hồn hơn. Chiến công của Việt Bắc là phải nhớ đến mỗi tên sông, tên núi, tên phố,.. Một Việt Bắc với khí thế chiến đấu hào hùng, sôi động của cuộc kháng chiến chống giặc, một tinh thần đoàn kết – một sự anh dũng, kiên cường trong chiến đấu

Việt Bắc trưởng thành với khí thế hào hùng, sôi động của cuộc chiến đấu:

“ Những đường Việt Bắc của ta

Ðêm đêm rầm rập như là đất rung

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan

Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.

Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

Ðèn pha bật sáng như ngày mai lên.

Tin vui chiến thắng trăm miền

Hoà Bình, Tây Bắc, Ðiện Biên vui về

Vui từ Ðồng Tháp, An Khê

Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.”

Từ quá khứ, tác giả mở ra một hình ảnh đoàn quân ngày càng lớn mạnh, nối tiếp liên tục hành quân trong đêm khuya ở một không gian vô cùng rộng lớn. Nghệ thuật so sánh kết hợp với những từ láy đã diễn tả lực lượng đông đảo , sự lớn mạnh cùng khí thế hào hùng của quân đội ta. Nếu hình ảnh đoàn quân “điệp điệp, trùng trùng” như gợi tưởng tới những dãy núi, nối tiếp nhau không dứt là một hình ảnh có tính mạnh mẽ thì hình ảnh ẩn dụ “ánh sao đầu súng” là một tứ thơ đẹp, trữ tình để liên tưởng đến lý tưởng cách mạng soi sáng dẫn đường và thiên nhiên Việt Bắc như người bạn đồng hành với các chiến sĩ cách mạng. Những bó đuốc đỏ rực của đoàn dân công soi đường kết hợp với hình ảnh phóng đại “bước chân nát đá” thể hiện sức mạnh lực lượng đông đảo và tinh thần quyết tâm cùng trái tim rực cháy đạt bằng mọi gian khổ chông gai. Là một bức tranh về ban đêm mà không hề tối tăm, ánh sáng đèn pha xua đi bóng tối, nghệ thuật so sánh “như ngày mai lên” kết hợp với nhịp thơ mạnh mẽ dồn dập đã thể hiện được niềm tin tưởng lạc quan vào tương lai tươi sáng của đất nước. Nhớ Việt Bắc cùng nhớ đến niềm vui chiến thắng, tin thắng trận từ mọi nơi trên đất nước báo về đây cùng từ đây mà lan truyền ra. Nghệ thuật liệt kê các địa danh gắn liền cùng với chiến thắng, nhịp điệu thơ sôi nổi, giọng thơ náo nức say mê thể hiện niềm tự hào vui sướng chiến thắng.

“Ai về ai có nhớ không?

Ngọn cờ đỏ thắm gió lồng cửa hang.

Nắng trưa rực rỡ sao vàng

Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công

Ðiều quân chiến dịch thu đông

Nông thôn phát động, giao thông mở đường

Giữ đê, phòng hạn, thu lương

Gửi dao miền ngược, thêm trường các khu...

Ở đâu u ám quân thù

Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi

Ở đâu đau đớn giống nòi

Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền.

Mười lăm năm ấy ai quên

Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hoà

Mình về mình lại nhớ ta

Mái đình Hồng Thái cây đa Tân Trào.”

Nhớ Việt Bắc là cơ quan đầu não của cách mạng. Là nơi diễn ra toàn bộ những cuộc tham mưu, và nơi dẫn chủ trương của Đảng và Chính phủ tỏa đi khắp nước, chỉ đạo cho con đường cách mạng. Cả dân tộc Việt Nam, những con người yêu đất nước đều gửi gắm những niềm tin, niềm hi vọng và sự mong đời vào nơi này. Việt Bắc là căn cứ địa vững chắc, nơi khai sinh những con người, những địa danh mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc: Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào. Người về xuôi muốn nhắn nhủ với Việt Bắc dù có trở về và cách xa nơi đây thì những gì đẹp nhất của người chiến sĩ cách mạng sẽ luôn được giữ gìn và phát huy.

Kết bài:

Vị trí của Việt Bắc cũng như của của Tổ Hữu trong nền thơ ca Việt Nam là chuyện không thể bàn cãi. Bài ca vừa là sự hào hùng về kháng chiến vừa là sự nghĩa tình trong tình cảm cách mạng quân dân này được Tố Hữu gửi gắm toàn bộ tâm tư tình cảm cũng như phong cách thơ ca của ông vào. Biến hóa và sáng tạo thể thơ lục bát, vừa dân dã lại vừa hiện đại. Sử dụng cách đối đáp trong ca dao dân gian một cách bình dị, nhẹ nhàng mà tha thiết. Vừa nhấn mạnh ý vừa tạo ra nhịp thơ cân xứng có nhạc điệu, thấm sâu vào tâm tư bằng cách sử dụng những tiểu đối. Lời ăn tiếng nói đầy mộc mạc và giản dị, ngôn ngữ giàu hình ảnh, đặc biệt cặp đại từ mình – ta quen thuộc đầy sáng tạo. Các biện pháp tu từ: nhân hóa, liệt kê,…  được sử dụng tinh tế và khéo léo. Tất cả đưa ta vào quá khứ cùng với những kỷ niệm ngọt ngào, tha thiết và tình nghĩa da diết, son sắt, thủy chung.

Đây là bài phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu trong chương trình Ngữ Văn 12, Vieclam123 hi vọng có thể giúp các bạn tham khảo và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra cũng như bài thi của mình.

>> Tham khảo thêm: Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

Gia sư nổi bật
Bùi Thu Trang  Hà Nội
Bùi Thu Trang Gia sư môn:  Toán , Văn , Tiếng Anh Từ: 150,000 vnđ/buổi
no image  Hồ Chí Minh
Đinh Đức Tiến Gia sư môn:  Toán , Lý , Hóa Từ: 150,000 vnđ/buổi
Nguyễn Thị Hồng Thắm  Hà Nội
Nguyễn Thị Hồng Thắm Gia sư môn:  Toán Từ: 90,000 vnđ/buổi
Nguyễn Thị Diễm Quỳnh  Hà Nội
Nguyễn Thị Diễm Quỳnh Gia sư môn:  Toán , Tiếng Việt , Luyện chữ đẹp Từ: 120,000 vnđ/buổi
no image  Hà Nội
Phạm Thị Khánh Ly Gia sư môn:  Tiếng Anh Từ: 120,000 vnđ/buổi
no image  Hà Nội
Nguyễn Minh Nghĩa Gia sư môn:  Toán , Lý , Hóa Từ: 120,000 vnđ/buổi
Cao Khắc Thịnh  Hà Nội
Cao Khắc Thịnh Gia sư môn:  Toán , Lý , Hóa Từ: 120,000 vnđ/buổi
Xem thêm gia sư  

Hotline

0869.154.226