home-logo.png
 Tìm kiếm nâng cao

Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu trích ngữ văn 12

  By   Administrator   21/12/2019

Đề bài: Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu trích ngữ văn 12 để thấy được vẻ đẹp thiên nhiên thơ mộng gắn với 1 thời kháng chiến gian khổ nhưng đằm thắm tình người

Phân tích bài thơ việt bắc

Mở bài:

Việt Bắc là một trong những tác phẩm quan trọng trong chương trình Ngữ Văn 12, đặc biệt là trong kì thi THPT Quốc Gia. Hãy cũng phân tích nội dung và nghệ thuật của đoạn trích Việt Bắc của Tố Hữu.

Thân bài:

Tố Hữu là một trong những nhà thơ tiêu biểu của nền thơ ca Việt Nam nói chung và nền thơ ca cách mạng nói riêng, thơ của ông luôn song hành cùng với những cột mốc cách mạng của dân tộc. Đặc biệt, bài thơ Việt Bắc được in trong tập thơ cùng tên được xem là một đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cùng là một tác phẩm xuất sắc của văn học Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Việt Bắc là mở đầu phần I của bài thơ Việt Bắc vốn dĩ viết về hoàn cảnh chia tay của quân và dân ta đầy lưu luyến, bịn rịn giữa kẻ ở - người đi, những con người đã từng gắn bó lâu dài (15 năm từ 1945 - 1954) với biết bao nghĩa tình sâu nặng sau chiến thắng 1954. Tác phẩm này chất chứa trọn vẹn phong cách thơ đặc trưng của Tố Hữu – bài ca trữ tình chính trị với tính đậm đà dân tộc được thể hiện đặc sắc qua cả nội dung và nghệ thuật.

Mở đầu là lời của Việt Bắc, là lời của người ở lại như thể hiện sự níu kéo đầy tiếc nuối với người ra đi:

“ Mình về mình có nhớ ta?

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

Mình về mình có nhớ không?

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”

Câu hỏi tu từ “mình có nhớ ta”, “mình có nhớ không” tưởng chừng là không sâu sắc nhưng đây chính là lời ướm hỏi, nhắc nhở về kỉ niệm 15 năm ân tình, muốn khơi gợi kỉ niệm trong lòng của người ra đi. Những cặp tình nhân, những đôi trai gái khi xa nhau đều tha thiết mà nói lời này. Cặp đại từ mình – ta khiến liên tưởng đến những câu ca dao đối đáp trao duyên, ở đây Tố Hữu đã mượn hình thức đối đáp bình dị này, còn nội dung thì đổi mới sáng sự ý thức về cội nguồn, cội nguồn của những kỉ niệm trong những ngày tháng kháng chiến hay tình cảm quân dân. Cặp đại từ này cũng thể hiện được phần nào sự gắn bó thân mật đầy yêu thương của quân dân ta. “Mười lăm năm ấy” là quãng thời gian gắn bó giữa Việt Bắc với cán bộ cách mạng kết hợp với cụm từ chỉ sắc thái tâm trạng “thiết tha mặn nồng” thể hiện mối quan hệ này bao nhiêu ân tình, bao nhiêu kỉ niệm khó quên. Điệp từ “nhớ” lặp đi lặp lại mang sự tha thiết, day dứt và trăn trở trong nỗi nhớ đối với những người, những kỉ niệm đã từng gắn bó.  Nghệ thuật liệt kê kết hợp các cặp từ sóng đôi: cây – núi, sông – nguồn như muốn nhắn nhủ và khẳng định mối quan hệ này không thể tách rời như cây với núi, như sông với nguồn và đây cũng chính là hình ảnh cội nguồn của những kỉ niệm, những nỗi nhớ gắn bó với núi rừng Việt Bắc.

Ở những câu tiếp theo chính là lời đáp của người ra đi, lời của cán bộ cách mạng đối với Việt Bắc cũng bày tỏ tâm trạng bâng khuâng, lưu luyến trong buổi phân li:

“Tiếng ai tha thiết bên cồn 

Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”

Sử dụng các từ láy “tha thiết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn” cùng với cử chỉ “cầm tay nhau” diễn tả tâm trạng xúc động, lưu luyến đến nghẹn ngào không nói nên lời. Dùng lối nói phiếm chỉ “tiếng ai” kết hợp hình ảnh hoán dụ “áo chàm” gợi hình ảnh đồng bào Việt Bắc, gần gũi, thân thương, nghĩa tình. Kết thúc bằng hình thức câu bỏ lửng “…”, nhịp thơ 3/3/2 thể hiện một tâm trạng không thể lý giải được, không đành lòng để cho người đi, làm chực trào nhớ thương những kỉ niệm. Buổi phân ly da diết đến nao lòng…

Những câu hỏi của Việt Bắc khiến những kỉ niệm ở vùng đất này ùa về dồn dập đến choáng ngợp: 

“Mình đi, có nhớ những ngày

Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù?

Mình về, có nhớ chiến khu

Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?

Mình về, rừng núi nhớ ai

Trám bùi để rụng, măng mai để già

Mình đi, có nhớ những nhà

Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son

Mình về, còn nhớ núi non

Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh

Mình đi, mình có nhớ mình

Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?”

Gợi kỉ niệm về những ngày tháng gian khổ với “mưa nguồn suối lũ”, “mây cùng mù”, rồi những kỉ niệm về những ngày đầu cách mạng gian khổ, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi, đồng cam cộng khổ “ miếng cơm chấm muối , mối thù nặng vai”. Có như không mà nhắc đến tình cảm ân tình, thủy chung, ấm áp “hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son”, gợi nhớ đến những cao trào cách mạng, những địa danh thiêng liêng của lịch sử đất nước “nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh”, “Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa”. Lời Việt Bắc hỏi chính là để đánh thức, nhắc nhở người về xuôi đừng quên những kỷ niệm. Song bên cạnh đó cũng là để bày tỏ tâm trạng. Sự nhớ thương, trống vắng trong lòng kẻ ở lại: “rừng núi nhớ ai”, “trám bùi để rụng, măng mai để già”, những điệp ngữ “mình đi – có nhớ”, “mình về - có nhớ”,… vang lên một cách dồn dập liên tiếp đã nói lên điều đó. Sự lo âu, băn khoăn liệu người ra đi có còn nhớ, có còn giữ những kỉ niệm xưa hay là sẽ chối bỏ, sẽ lãng quên: “mình đi, mình có nhớ mình?”. Nghệ thuật nhân hóa cùng hoàng loạt điệp ngữ kết hợp cùng bao hoài niệm tha thiết đã cho thấy hình ảnh người ở lại bâng khuâng thương nhớ với cảm giác chưa nguôi đầy lưu luyến trong phút chia li.

“Ta với mình, mình với ta

Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

Mình đi, mình lại nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu...

Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.

Nhớ từng rừng nứa bờ tre

Ngòi Thia sông Ðáy, suối Lê vơi đầy

Ta đi, ta nhớ những ngày

Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi...”

Hai đại từ ta – mình cứ ở gần nhau mà quấn quýt không rời “Ta với mình, mình với ta” thật là nồng nàn. Không phân ý nghĩa ra là riêng mà nhập thành một khẳng định sự thủy chung son sắt. Nguồn với nước dào dạt bao nhiêu thì ta với mình nghĩa tình bấy nhiêu, và ai cũng biết nguồn với nước là bất tận “Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu”.. Phép điệp cấu trúc kết hợp với điệp ngữ đặt ở đầu câu: nhớ gì, nhớ từng… khẳng định người ra đi không quên bất cứ một hình ảnh nào ở Việt Bắc, ở thiên nhiên Việt Bắc và ở con người nơi đây. 

Thiên nhiên Việt Bắc là một thiên nhiên mênh mông, hùng vĩ, đầy sức sống, là một thiên nhiên vừa hiện thực vừa thơ mộng mang nét đặc trưng của Việt Bắc: trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương,… Hình ảnh thiên nhiên luôn hòa quyện thắm thiết với con người. Nhớ con người Việt Bắc luôn gắn bó với thiên nhiên, luôn chăm chỉ, gần gũi, tràn đầy năng lượng, sức sống luôn lạc quan, yêu đời, yêu lao động. Con người đầy ân tình, đồng cam cộng khổ gắn bó với chiến sĩ cách mạng. Cũng nhớ người Việt Bắc lam lũ đầy cơ cực, vất vả. Nhớ con người Việt Bắc như vậy thể hiện sự xót xa của tác giả với những cực khổ của đồng bào Việt Bắc. Rồi lại nhớ cuộc sống và những ngày tháng sinh hoạt ở chiến khu. Dù cuộc sống kháng chiến có gian khổ, thiếu thốn nhưng vẫn lạc quan, yêu đời: những sinh hoạt học tập, liên hoan,.. không gian thanh bình, êm đềm.

Một trong những đặc sắc của Việt Bắc chính là bức tranh tứ bình đầy màu sắc. Qua lời kể của các anh chiến sĩ bức tranh thiên nhiên hiện lên một cách sinh động, đầy rực rỡ:

“Ta về, mình có nhớ ta

Ta về ta nhớ những hoa cùng người

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.”

Người ra đi khẳng định nỗi nhớ trong lòng mình, hình ảnh “hoa cùng người” cho thấy thiên nhiên và con người Việt Bắc luôn gắn bó hài hòa là đối tượng của nỗi nhớ. Mùa đông nơi đây là màu xanh bạt ngàn của núi rừng Việt Bắc, đâu đó được điểm tô và thắp sáng bởi màu đỏ tươi của hoa chuối, câu thơ tả cảnh mùa đông nhưng không hề có cảm giác lạnh lẽo, ảm đạm. Hình ảnh “hoa chuối đỏ tươi” như xua đi cái lạnh lẽo nơi núi rừng mang lại cảm giác ấm áp, gần gũi, thân thương. Nơi đây hình ảnh con người xuất hiện với tư thế bản lĩnh đầy tự tin nơi đèo cao, con dao đi rừng phản quang bởi ánh mặt trời chiếu vào làm hình ảnh của con người rực sáng trở thành trung tâm bức tranh. Mùa xuân thơ mộng với màu trắng tinh khiết của hoa mơ, cả núi rừng tràn ngập một màu trắng. “Nở trắng rừng” tạo ấn tượng mạnh mẽ, dường như màu sắc vận động khoác lên Việt Bắc một tấm áo mới. Hình ảnh đầy sức sống bừng dậy cho thấy tâm trạng náo nức khi mùa xuân tới. Thời gian này con người Việt Bắc hiện lên bởi hình tượng chăm chỉ, cần mẫn, khéo léo tạo ra những sản phẩm làm giàu cho Việt Bắc đóng góp cho kháng chiến. Xuân qua thì hè đến, hình ảnh thơ mang âm thanh rộn ràng của ve và màu vàng rực rỡ của hoa phách, tiếng ve vang động như khiến cho rừng cây đổ vàng đồng loạt. Con người Việt Bắc xuất hiện giữa tiếng ve và màu sắc rực rỡ của hoa phách trong tư thế lao động đời thường gợi cảm giác trữ tình thơ mộng. Mùa thu được gợi lên bởi những hình ảnh đậm chất cổ điển mang phong vị thơ Đường, không khí thanh bình, yên ả vẻ đẹp thơ mộng, êm đềm cùng với ánh trăng. Con người xuất hiện cùng tiếng hát ân tình thủy chung gợi sự lạc quan yêu đời và tình cảm ân tình, gắn bó.

“Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây

Núi giăng thành lũy sắt dày

Rừng che bộ đội rừng vây quân thù

Mênh mông bốn mặt sương mù

Ðất trời ta cả chiến khu một lòng.

Ai về ai có nhớ không?

Ta về ta nhớ Phủ Thông, đèo Giàng

Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng

Nhớ từ Cao-Lạng nhớ sang Nhị Hà...”

Vào giai đoạn đầu khi cách mạng còn yếu thì thiên nhiên Việt Bắc với rừng núi mênh mông, hùng vĩ trở thành bạn của quân dân ta, chở che cho bộ đội ta, cùng quân và dân ta “ vây”, “đánh” giặc. Tố Hữu sử dụng biện pháp nhân hóa khiến thiên nhiên Việt Bắc sinh động hơn, có hồn hơn. Chiến công của Việt Bắc là phải nhớ đến mỗi tên sông, tên núi, tên phố,.. Một Việt Bắc với khí thế chiến đấu hào hùng, sôi động của cuộc kháng chiến chống giặc, một tinh thần đoàn kết – một sự anh dũng, kiên cường trong chiến đấu

Việt Bắc trưởng thành với khí thế hào hùng, sôi động của cuộc chiến đấu:

“ Những đường Việt Bắc của ta

Ðêm đêm rầm rập như là đất rung

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan

Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.

Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

Ðèn pha bật sáng như ngày mai lên.

Tin vui chiến thắng trăm miền

Hoà Bình, Tây Bắc, Ðiện Biên vui về

Vui từ Ðồng Tháp, An Khê

Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.”

Từ quá khứ, tác giả mở ra một hình ảnh đoàn quân ngày càng lớn mạnh, nối tiếp liên tục hành quân trong đêm khuya ở một không gian vô cùng rộng lớn. Nghệ thuật so sánh kết hợp với những từ láy đã diễn tả lực lượng đông đảo , sự lớn mạnh cùng khí thế hào hùng của quân đội ta. Nếu hình ảnh đoàn quân “điệp điệp, trùng trùng” như gợi tưởng tới những dãy núi, nối tiếp nhau không dứt là một hình ảnh có tính mạnh mẽ thì hình ảnh ẩn dụ “ánh sao đầu súng” là một tứ thơ đẹp, trữ tình để liên tưởng đến lý tưởng cách mạng soi sáng dẫn đường và thiên nhiên Việt Bắc như người bạn đồng hành với các chiến sĩ cách mạng. Những bó đuốc đỏ rực của đoàn dân công soi đường kết hợp với hình ảnh phóng đại “bước chân nát đá” thể hiện sức mạnh lực lượng đông đảo và tinh thần quyết tâm cùng trái tim rực cháy đạt bằng mọi gian khổ chông gai. Là một bức tranh về ban đêm mà không hề tối tăm, ánh sáng đèn pha xua đi bóng tối, nghệ thuật so sánh “như ngày mai lên” kết hợp với nhịp thơ mạnh mẽ dồn dập đã thể hiện được niềm tin tưởng lạc quan vào tương lai tươi sáng của đất nước. Nhớ Việt Bắc cùng nhớ đến niềm vui chiến thắng, tin thắng trận từ mọi nơi trên đất nước báo về đây cùng từ đây mà lan truyền ra. Nghệ thuật liệt kê các địa danh gắn liền cùng với chiến thắng, nhịp điệu thơ sôi nổi, giọng thơ náo nức say mê thể hiện niềm tự hào vui sướng chiến thắng.

“Ai về ai có nhớ không?

Ngọn cờ đỏ thắm gió lồng cửa hang.

Nắng trưa rực rỡ sao vàng

Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công

Ðiều quân chiến dịch thu đông

Nông thôn phát động, giao thông mở đường

Giữ đê, phòng hạn, thu lương

Gửi dao miền ngược, thêm trường các khu...

Ở đâu u ám quân thù

Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi

Ở đâu đau đớn giống nòi

Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền.

Mười lăm năm ấy ai quên

Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hoà

Mình về mình lại nhớ ta

Mái đình Hồng Thái cây đa Tân Trào.”

Nhớ Việt Bắc là cơ quan đầu não của cách mạng. Là nơi diễn ra toàn bộ những cuộc tham mưu, và nơi dẫn chủ trương của Đảng và Chính phủ tỏa đi khắp nước, chỉ đạo cho con đường cách mạng. Cả dân tộc Việt Nam, những con người yêu đất nước đều gửi gắm những niềm tin, niềm hi vọng và sự mong đời vào nơi này. Việt Bắc là căn cứ địa vững chắc, nơi khai sinh những con người, những địa danh mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc: Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào. Người về xuôi muốn nhắn nhủ với Việt Bắc dù có trở về và cách xa nơi đây thì những gì đẹp nhất của người chiến sĩ cách mạng sẽ luôn được giữ gìn và phát huy.

Kết bài:

Vị trí của Việt Bắc cũng như của của Tổ Hữu trong nền thơ ca Việt Nam là chuyện không thể bàn cãi. Bài ca vừa là sự hào hùng về kháng chiến vừa là sự nghĩa tình trong tình cảm cách mạng quân dân này được Tố Hữu gửi gắm toàn bộ tâm tư tình cảm cũng như phong cách thơ ca của ông vào. Biến hóa và sáng tạo thể thơ lục bát, vừa dân dã lại vừa hiện đại. Sử dụng cách đối đáp trong ca dao dân gian một cách bình dị, nhẹ nhàng mà tha thiết. Vừa nhấn mạnh ý vừa tạo ra nhịp thơ cân xứng có nhạc điệu, thấm sâu vào tâm tư bằng cách sử dụng những tiểu đối. Lời ăn tiếng nói đầy mộc mạc và giản dị, ngôn ngữ giàu hình ảnh, đặc biệt cặp đại từ mình – ta quen thuộc đầy sáng tạo. Các biện pháp tu từ: nhân hóa, liệt kê,…  được sử dụng tinh tế và khéo léo. Tất cả đưa ta vào quá khứ cùng với những kỷ niệm ngọt ngào, tha thiết và tình nghĩa da diết, son sắt, thủy chung.

Đây là bài phân tích tác phẩm Việt Bắc của Tố Hữu trong chương trình Ngữ Văn 12, hi vọng có thể giúp các bạn tham khảo và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra cũng như bài thi của mình.

Đăng ký khóa học IELTS

Gia sư nổi bật
Đặng Văn Hoàng  Đà Nẵng
Đặng Văn Hoàng Gia sư môn:  Tiếng Anh Từ: 250,000 vnđ/buổi
no image  Hà Nội
Nguyễn Thị Ánh Ngọc Gia sư môn:  Toán , Lý , Tiếng Anh Từ: 150,000 vnđ/buổi
no image  
Nguyễn Hải Bình Gia sư môn:  Thương lượng
no image  Hà Nội
Lê Thị Hoài Thu Gia sư môn:  Toán , Tiếng Anh Từ: 100,000 vnđ/buổi
Nguyễn Kiều Oanh  Vĩnh Long
Nguyễn Kiều Oanh Gia sư môn:  Toán , Hóa , Tiếng Anh Từ: 100,000 vnđ/buổi
Vũ Hoàng Trung  Hà Nội
Vũ Hoàng Trung Gia sư môn:  Toán , Hóa Từ: 120,000 vnđ/buổi
hoàng diệu linh  Hà Nội
hoàng diệu linh Gia sư môn:  Toán , Lý Từ: 150,000 vnđ/buổi
Xem thêm gia sư