home-logo.png
 Tìm kiếm nâng cao

Chọn lọc mẫu văn phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

  By   Administrator   24/12/2019

Khi đề cập đến đề tài những người chiến sĩ, bộ đội cụ Hồ trong thời kì kháng chiến chống Pháp, không thể nào quên được tác phẩm "Tây Tiến" của nhà thơ xứ Đoài - Quang Dũng. Đây được coi là đứa con đầu lòng không những của nhà thơ Quang Dũng mà còn của cả nền thơ kháng chiến. Đặc biệt là trong giai đoạn đầu những năm kháng chiến gian khổ, mất mát đau thương nhưng cũng rất hào hùng của dân tộc ta.

Giới thiệu về tác giả Quang Dũng.

Quang Dũng sinh ra và lớn lên tại Đan Phượng, Hà Tây hiện nay là Hà Nội hay còn biết đến với tên gọi là xứ Đoài. Mảnh đất ông sinh ra và lớn lên đã đi vào nhiều vẫn thơ lãng mạn. Quang Dũng là một nhà thơ đa tài, bởi không chỉ là một nhà thơ nổi tiếng của đất nước mà còn là một người hoạ sĩ, một người nhạc sĩ. Chính vì vậy, trong các tác phẩm của ông có chất nhạc, chất họa rất rõ ràng, cộng hưởng và mang lại thăng hoa trong từng câu chữ. Đồng thời, Quang Dũng còn là người chiến sĩ ưu tú. Ông viết thơ bằng chính sự trải nghiệm thực tế của mình trên chiến trường qua những ngày tháng đấu tranh gian khổ. Thơ ông chứa đầy chất lãng mạn, hồn hậu và phóng khoáng.

Khác với xuất thân của người lính trong "Đồng chí" của Chính Hữu là những người nông dân từ mọi miền, từ mọi độ tuổi thì người lính trong Tây Tiến là những học sinh, sinh viên đất thủ đô vừa rời ghế nhà trường đi thẳng vào chiến trường. Đón cũng là một điểm khác biệt tạo nên chất lãng mạn, hào hoa trong thơ Quang Dũng. Bài thơ được viết trong một chiều mưa ở Phù Lưu Chanh khi tác giả nhớ về những người đồng chí, đồng đội của mình trong binh đoàn Tây Tiến. Tác phẩm khắc hoạ thành công vẻ đẹp hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. 

Phân tích bài thơ tây tiến

Phân tích bài thơ Tây Tiến

Với nhan đề bài thơ, khi sáng tác bài thơ có nhan đề là "Nhớ Tây Tiến". Tuy nhiên sau một thời gian, chính Quang Dũng đã đổi nhan đề thành "Tây tiến". Tại sao lại như vậy? Tại vì tác giả muốn cô đọng ý thơ, nỗi nhớ này đã trải dài  xuyên suốt trở thành tư tưởng bài thơ rồi. Tác giả muốn người đọc tự nhận ra và cảm nhận nỗi nhớ này trong quá trình đọc hiểu bài thơ chứ không phải nhìn thấy ngay từ ở nhan đề. 

Khổ thơ đầu là nỗi nhớ của tác giả về chặng đường hành quân của binh đoàn Tây Tiến. 

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi 

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”

Hai câu thơ mở đầu có tính chất như những lợi gợi dẫn, gợi nhớ, gợi thương. Ấn tượng đầu tiên về bài thơ là lời gọi "tây tiến ơi", tiếng gọi tha thiết, trìu mến, thân thương và đầy  khắc khoải. Tây Tiến như không còn là một địa danh nữa mà hình như là một người thân yêu, ruột thịt của nhà thơ. Mở đầu bài thơ với nỗi nhớ gắn bó, tha thiết đối với vùng đất mà mình từng gắn bó, từng đi qua. Trong nỗi nhớ chung về Tây Tiến, nỗi nhớ riêng đầu tiên được nhắc tới, được gọi bằng tên là hình ảnh "Sông Mã". Hình ảnh này cũng được nhắc tới ở gần cuối bài thơ như một nghệ thuật đối xứng. Bởi dòng sông này chảy dài theo suốt những cung đường hành quân của những người lính Tây Tiến, như một người bạn đồng hành như một chứng nhân lịch sử đã dõi theo từng bước chân hành quân của người lính anh dũng. Cùng với sông Mã là hình ảnh rừng núi "nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi". Đó là những ấn tượng đầu tiên về vùng đất này, những thanh niên Hà thành đã quá quen với những cung đường phẳng tắp người người người qua lại thì hình ảnh núi rừng lại trở nên quá đỗi lạ lẫm. Sự khác biệt đối lập này đã tạo nên dấu ấn mạnh mẽ cho người chiến sĩ ngày đầu hành quân. Điệp từ nhớ ở hai câu thơ đầu nhấn mạnh nỗi nhớ của mình, và cho thấy rằng đó là những kỷ niệm không thể nào quên với nhà thơ Quang Dũng. 

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi 

Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

Trong sự hồi tưởng của Quang Dũng cung đường tây tiến mở ra theo cả chiều thời gian và chiều không gian. Tác giả sử dụng rất nhiều địa danh: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, Lai Châu  mở ra trong hình dung người đọc về các miền đất xa xôi, miền rừng núi hoang vắng. Và mỗi lần nhắc đến tên một địa danh là một lần gợi nhớ về một ký ức gắn liền với những người chiến sĩ trên từng bước hành quân.Tác giả tập trung khắc hoạ hài ấn tượng : sương và dốc núi. "Sài Khao sương lấp”,  "Sương lấp" là sương che kín, dày đặc, phủ mờ cả con đường đi, cản trở tầm nhìn của những người chiến sĩ. Đồng thời sương cũng đi kèm với không khí lạnh giá, rét buốt đến tê người nơi núi rừng khiến cho đoàn quân gặp rất nhiều khó khăn, mỏi mệt "đoàn quân mỏi". Tuy vậy, Quang Dũng vẫn nhớ đến màn sương dày đặc bằng lăng kính lãng mạn của mình thông qua việc so sánh với hình ảnh "hoa về". Tưởng tượng hình ảnh sương như đùn đùn tạo thành hình hoa, động từ “về” diễn tả sự quây tụ góp phần xua đi nỗi cô đơn, lạnh giá trong tâm hồn của những người lính. Có thể thấy, sương mang đến cái lạnh, cái rét buốt ngấm sâu vào từng thớ thịt của đoàn người nhưng mọi khó khăn gian khổ đấy lại được tác giả nhớ đến với một khung cảnh đêm thật thơ mộng “đêm hơi”.

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây, súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”

Chỉ với ba câu thơ trên, kết hợp nhịp thơ 4/3 cắt ngang câu thơ và sử dụng toàn thanh trắc Quang Dũng đã vẽ ra trước mắt người đọc địa hình núi non vô cùng hiểm trở của vùng đất Tây Bắc- cung đường đoàn binh Tây Tiến hành quân qua . Các từ láy tượng hình “khúc khủy” “thăm thẳm”, người lính Tây Tiến treo mình trên sườn núi đá một bên là vực sâu thăm thẳm một bên là núi cao khúc khủy. “Heo hút” thể hiện sự vắng vẻ, không có sự qua lại hoạt động của con người trên những cung đường mà chiến sĩ hành quân qua. Điệp từ “ngàn”, phép đối xứng lên>< xuống, khiến ta hình dung địa hình hết dốc cao này lại đến dốc cao khác, liên tiếp nhau, dốc lên cao rồi đột ngột xuống thấp. Khó khăn chồng chất khó khăn. Chỉ với ba câu thơ, Quang Dũng đã vẽ ra thành công vùng địa bàn núi non hiểm trở ở Tây bắc bộ nơi mà đoàn quân từng hoạt động. Hình ảnh đặc biệt “súng ngửi trời”, dù đứng trong khắc nghiệt của địa hình gập ghềnh khúc khủy thì người lính vẫn đứng lên làm chủ thiên nhiên mình, làm chủ quê hương mình, làm chủ đất nước mình. Thể hiện tinh thần chiến đấu vượt qua mọi khó khăn, gian khổ.

“Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi “

Sau những vần thơ gieo toàn thanh chắc thì đến câu thơ này Quang Dũng gieo toàn thanh bằng để gợi lại sự bình yên, bình tâm sau những thử thách của địa hình vùng núi cao.  Sự bình yên đấy thể hiện qua hình ảnh bản làng, “nhà ai” tức là người chiến sĩ đi đến bất cứ đâu thì đều có sự chào đón của mọi người. Suốt dọc đường hoang vắng, tìm được một nơi cư trú, nghỉ chân như mang đến sự ấm áp, yên bình cho người lính.
Cung đường được mở ra theo chiều thời gian:

“Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”

“ Chiều chiều” “đêm đêm” các từ láy gợi tả thời gian hành quân có tính chất tuần hoàn chu kì. Song hành với thời gian ấy là liên tiếp những gian nan, thử thách hiện ra với người lính. Các anh thường xuyên phải đi qua những vùng u tì quốc, rừng thiêng nước độc nên luôn luôn ám ảnh “thác gầm thét”. Hình ảnh “cọp trêu người” càng khiến ta rùng mình, hổ có thể ăn thịt người bất cứ lúc nào. Ấy thế mà với tâm thế của người lính, đe dọa từ những con cọp hung dữ chỉ như là “trêu người”.

Điểm thành công của khổ thơ thứ nhất còn được thể hiện qua sự lãng mạn hóa cái chết trong cuộc đấu tranh với kẻ thù của người lính:

“Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời !”

Sức mạnh văn chương được đổ dồn vào từ láy “dãi dầu”. Nhớ về bao khó khăn, gian khổ thử thách của thiên nhiên không biết người lính sẽ ngã xuống lúc nào, hy sinh lúc nào, gục xuống lúc nào, Quang Dũng viết “không bước nữa” chuyển thế chủ động sang cho người lính. Cái chết đối với người lính nhẹ như tơ hồng, như một giấc ngủ. Họ ngã xuống để tổ quốc đứng lên. Họ ngã xuống vì sự tự do, hạnh phúc của quê hương đất nước của hàng nghìn hàng vạn người dân hiền lành, chất phác. Thế thì có gì phải sợ? Họ ra đi vẫn mang theo hành trang quân ngũ, tư thế của những người chiến sĩ chiến đấu  hi sinh vì tổ quốc “Gục lên súng mũ”.

“Nhớ ôi Tây tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

Nhớ về chặng đường hành quân là những bữa ăn thắm tình đồng chí, đồng đội với những món ăn mang hương vị dân dã, đạm bạc nhưng mang đầy bản sắc dân tộc, nào là “cơm lên khói” nào là”thơm nếp xôi”. Chặng đường dừng chân, nghỉ ngơi của đoàn quân đã khép lại khổ thơ đầu với nỗi nhớ nhung, hồi tưởng về những cung đường Tây Tiến chất đầy những chông gai, thử thách của nhà thơ Quang Dũng.
Nhớ về Tây Tiến, nhà thơ không chỉ nhớ về cung đường hành quân mà con nhớ về con người nơi đây:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

Đó là khoảnh khắc, các anh được cùng sinh hoạt và giao lưu với những dân làng vùng cao vùng xa trong những đêm tạm dừng chân. Hình ảnh “đuốc hoa” thường xuất hiện trong đêm tân hôn thể hiện sự hỉ hoan, vui mừng, hạnh phúc. Qua cái nhìn dí dỏm của người chiến sĩ “đuốc hoa” ở đây như bừng tỉnh lên niềm tin vào cách mạng, vào chiến thắng. Họ được chào đón nồng hậu bởi những âm điệu dân tộc: tiếng “khèn”, “man điệu”, “nhạc” và nhớ về dáng vẻ sửa soạn xinh đẹp, tươm tất của những cô gái bản làng “Kìa em xiêm áo tự bao giờ”. Đây là những dòng thơ đầy chất nhạc, chất thơ đặc sắc trong hồn thơ Quang Dũng khi nhớ về Tây Tiến.

“ Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

Trái ngược với hình ảnh núi non gập ghềnh khúc khuỷu, thiên nhiên vùng đất Tây Bắc còn mang trong mình vẻ đẹp nhẹ nhàng, thấm đượm lòng người khiến ai đi qua cũng phải lưu luyến nhớ về. Sở dĩ Quang Dũng đưa vào địa danh “Châu Mộc” bởi nơi đây có cảnh sắc thiên nhiên rất đẹp, rất nên thơ, một vẻ đẹp rất Tây Bắc rất lãng mạn. “Chiều sương” mở ra một vùng không gian hoang dã được bao phủ bởi lớp sương mù, vùng đất hiện ra mơ màng như một miền cổ tích. Các hình ảnh “lau”, “hoa” là những sự vật vô tri vô giác nhưng qua lăng kính của tác giả chúng như có cả một tâm hồn. Điệp từ “có nhớ- có thấy” gợi lên sự nhớ nhung quyến luyến không thôi của nhà thơ. Ai nói rằng nơi đây chỉ có hoang vu, hẻo lánh, rừng thiên nước độc? Tây Bắc cũng có những nét đẹp riêng, vô cùng nhẹ nhàng, nên thơ nên tình khiến cho tâm hồn con người lúc nào cũng được hòa cùng thiên nhiên, đồng điệu cùng thiên nhiên cảnh vật.

“ Tây tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu, anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Tây tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.”

Khổ thơ cuối nhà thơ đã khắc họa thành công bức tượng đài về người lính. Mỗi một câu thơ như một nét vẽ khắc lên từng vẻ đẹp của hình ảnh người bộ đội cụ Hồ. Những người chiến sĩ trên cung đường chiến đấu gặp phải căn bệnh sốt rét rụng hết tóc, da dẻ xanh xao. Đó là những tổn hại, nỗi đau về thể chất. Thế nhưng qua cách nhìn của Quang Dũng, ông nói về chúng rất hiển nhiên và ung dung chỉ là “không mọc tóc” và màu da xanh này trùng với màu xanh của lá lại giúp chiến sĩ ngụy trang trong rừng núi ngăn cản sự chú ý của kẻ địch. Đó là tinh thần lạc quan trước mọi gian khổ, cách nói dí dỏm của nhà thơ như biến thách thức thành cơ hội. Các anh hiện lên ốm nhưng không hề yêu, ngược lại còn dữ dội, oai linh khiến cho quân địch phải khiếp sợ.

Về vẻ đẹp tâm hồn của người lính, trong suốt thời gian đấu tranh với kẻ thù họ thường gửi những yêu thương, tâm tư qua biên giới. Vậy thì họ nhớ về ai? Có nhiều người nói “dáng kiều thơm” ở đây là hình ảnh người con gái – người thương của các chiến sĩ. Nhưng các anh ra đi khi còn rất trẻ có những người chưa mảnh tình vắt vai. “Dáng kiều thơm” ở đây có thể hiểu là hình ảnh của thủ đô Hà Nội. Bởi họ là những tri thức sài thành, khi rời xa quê hương họ nhớ về quê hương như dáng vẻ của một người con gái là hoàn toàn hợp lý. Trong đoạn thơ này, nhà thơ sử dụng hàng loạt các từ hán việt: “mồ viễn xứ”, “áo bào”, “khúc độc hành”, “biên cương” đem đến tinh thần bi tráng. Viết về đau thương, mất mát nhưng lại toát ra vẻ đẹp hào hùng, bất tử. Trên chặng đường của người lính, đã có những nấm mồ, họ sẵn sàng hi sinh, sẵn sàng gục xuống. Chiến sĩ có thể chết đường, chết vì bệnh sốt rét, chết vì chiến đấu với kẻ thù nhưng họ vẫn luôn kiên cường, không một chút sợ hãi vì sau lưng họ là đồng đội là tổ quốc chính vì vậy Quang Dũng viết “chẳng tiếc đời xanh”. Những chiến binh là những trai trẻ, đi “không hẹn ước”, không hẹn ngày trở về, nếu học có trở về là trở về cùng chiến thắng của quân ta, thất bại của quân giặc. “Áo bào” là hình ảnh chiếu gói bọc lại người lính đưa họ về với đất mẹ khi ra đi mãi mãi. Với tác giả đó như một loại áo bào. Nói về bi thương nhưng không bị mà ngược lại mang đầy tráng lệ, hùng dũng. Vẻ đẹp của người lính bước vào trong thơ ca là một bức tượng đài quyết tử cho tổ quốc quyết sinh.

Như vậy, xuyên suốt bài thơ “Tây Tiến” là nỗi nhớ da diết của Quang Dũng về một thời khó khăn nhưng oai hùng bên cạnh đồng đội của mình, đồng thời khắc họa thành công hình ảnh tráng lệ của người bộ đội cụ Hồ. “Tây Tiến” đã để lại trong lòng người yêu văn chương dấu ấn không thể phai mờ về quãng thời gian chiến đấu anh dũng của nhân dân ta trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. 

Gia sư nổi bật
Vũ Thị Thi  Hà Nội
Vũ Thị Thi Gia sư môn:  Toán , Tiếng Anh , Tiếng Pháp Từ: 150,000 vnđ/buổi
no image  Hà Nội
Đinh Thu Linh Gia sư môn:  Toán , Tiếng Việt Từ: 120,000 vnđ/buổi
Nguyễn Xuân Ty  Hồ Chí Minh
Nguyễn Xuân Ty Gia sư môn:  Tiếng Anh Từ: 200,000 vnđ/buổi
no image  Hà Nội
Nguyễn Thị Tuyến Gia sư môn:  Tiếng Anh Từ: 120,000 vnđ/buổi
Lê Thu  Thảo  Hà Nội
Lê Thu Thảo Gia sư môn:  Toán , Lý , Hóa Từ: 150,000 vnđ/buổi
Nguyễn Hoàng Mộc Miên  
Nguyễn Hoàng Mộc Miên Gia sư môn:  Thương lượng
Ngô Thị Hường  Hà Nội
Ngô Thị Hường Gia sư môn:  Toán , Tiếng Việt , Tiếng Anh Từ: 120,000 vnđ/buổi
Xem thêm gia sư