Dàn ý và bài văn mẫu phân tích nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ

  By   Administrator   14/07/2019

Sau chuyến đi cùng bộ đội vào giải phóng Tây Bắc (1952), Tô Hoài sáng tác ra tập truyện “Truyện Tây Bắc”, Vợ chồng A Phủ là một trong ba tác phẩm in trong tập truyện này. Chuyến đi Tây Bắc này giúp Tô Hoài có 8 tháng sống và trải nghiệm cùng đồng bào dân tộc thiểu số để từ đây có những cảm hứng sâu sắc cho các tác phẩm của ông sau này. Dưới đây, vieclam123.vn sẽ đưa ra dàn ý cho bài phân tích nhân vật Mị cùng bài văn mẫu hay nhất để bạn đọc thấy được tài năng xây dựng nhân vật vô cùng xuất sắc của nhà văn Tô Hoài.

1. Dàn ý bài phân tích nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ

1.1. Mở bài giới thiệu tác giả, tác phẩm

những ý chính cho bài phân tích nhân vật mị

Sau khi sống và gắn bó vô cùng mật thiết với đồng bào Tây Bắc, nhà văn Tô Hoài đã thốt lên rằng “đất và người Tây Bắc đã để nhớ để thương trong tôi nhiều quá”. Chính vì nỗi niềm nhớ thương gắn bó đó mà nhà văn Tô Hoài đã có riêng một tập truyện viết về người dân và cuộc sống nơi đây – Truyện Tây Bắc. Nhân vật Mị là nhân vật chính trong truyện Vợ chồng A Phủ, một truyện ngắn được rút ra từ tập truyện này. Có thể nói, tình yêu thương của Tô Hoài đối với con người Tây Bắc đều được gói ghém và thể hiện tất cả qua việc xây dựng nhân vật Mị.

1.2. Thân bài phân tích nhân vật Mị

a. Trước khi về làm dâu nhà Thống lí Pá Tra

- Mị là một nhân vật được tác giả xây dựng với rất nhiều những đức tính tốt đẹp. Cô là một người con Tây Bắc vô cùng xinh đẹp, nết na, chăm chỉ, yêu tự do và luôn hiếu thảo. Ngoài ra, Mị còn là một cô gái mang trong mình một tình yêu đẹp và niềm tin vào tương lai tươi sáng của cuộc sống. Nhưng những món nợ nặng trĩu đã đè lên vai của Mị ngay từ khi cô được sinh ra.

- Tình yêu Tây Bắc, yêu con người nơi đây đều được Tô Hoài gửi gắm tất cả vào nhân vật Mị, ông dùng tình yêu thương đó tạo thành ánh hào quang rực rỡ nhất của một người phụ nữ để phủ lên nhân vật Mị. Mị là một cô gái xinh đẹp khiến bao chàng trai say mê. Không những có sắc, Mị còn là một cô gái có tài, có thể thổi sáo hay đến nỗi khiến "biết bao người mê, ngày đêm thổi sáo đi theo Mị"... Là một cô gái không những xinh đẹp mà còn tài năng, Mị sống trong những tháng ngày tươi đẹp của một cô gái đang tuổi trăng tròn, xứng đáng có được cơ hội sống hạnh phúc cùng người mà mình yêu thương.

- Bên cạnh nét đẹp và sự tài năng của một cô gái trẻ, thì bản chất của con người Tây Bắc là cần cù lao động vẫn in đậm và hiện lên vô cùng rõ nét trong con người Mị. Mị vẫn là một người con sinh ra từ bản làng, từ núi rừng, Mị có thể làm nương, trồng ngô, sẵn sàng lao động để trả nợ cho bố mẹ. Mặc dù cuộc sống một cuộc sống khó khăn, song, Mị luôn yêu đời và tin vào một cuộc sống tự do, không ham tiền bạc hay giàu sang phú quý.

- Mặc dù xinh đẹp, giỏi giang là thế, nhưng Mị là không có cơ hội được tự đưa ra quyết định cho cuộc đời mình. Mị đã phải cắn răng chịu đựng cảnh bị ép về làm dâu nhà Thống lí Pá Tra để trả nợ cho gia đình.

b. Khi mới về làm dâu nhà Thống lí Pá Tra

- Là một cô gái trẻ đẹp đang sống với bao ước mơ, hoài bão, khát vọng về một cuộc sống hạnh phúc với người mà mình yêu thương trong tương lai, nhưng khi bị ép về làm dâu thì Mị cảm thấy cuộc sống gần như hoàn toàn bế tắc.

- Mị phải chịu đựng nhiều nỗi đau, sự bất hạnh một cách âm thầm khi phải về nhà Thống lí Pá Tra làm dâu gạt nợ. Khi ý thức được rằng, cuộc sống sau này của cô sẽ phải cam chịu rất nhiều những thứ như vậy thậm chí là hơn cả như vậy, Mị sẵn sàng quên đi mọi thứ và chỉ muốn tìm đến cái chết để giải thoát tất cả. Đã rất nhiều lần Mị có ý định tự sát bằng cách đi vào rừng hái lá ngón giấu vào trong tay áo, sau đó trở về nhà để quỳ lạy bố để chuẩn bị tự giải thoát cho bản thân. Nhưng vì là một người con hiếu thảo, Mị không nhẫn tâm để bố mẹ mình phải chịu khổ chịu cực, cho nên cô đành từ bỏ ý định tự tử, ném nắm lá ngón xuống đất mà như thể ném đi khát vọng về một cuộc đời hạnh phúc vậy. Mị cam chịu thân phận làm trâu, làm ngựa cho nhà Thống lí Pá Tra để trả hết nợ năm xưa cho bố mẹ.

c. Khi đã quen với cuộc sống ở nhà Thống lí Pá Tra

- Người ngoài nhìn vào đều cho rằng, được làm dâu trong một gia đình giàu có, ắt hẳn Mị phải có một cuộc sống vô cùng sung sướng và hạnh phúc. Nhưng thực tế thì Mị bị hành hạ cả về thể xác lẫn tinh thần. Thời gian sống và lao động cực nhọc ở nhà Thống lí Pá Tra dường như đã làm tê liệt tinh thần của Mị - một cô gái đã từng có một tinh thần hết sức lạc quan về tương lai, Mị đã dần quen thuộc với cuộc sống khổ cực bên cạnh chuồng ngựa.

- Sau khi bố mất, Mị không còn suy nghĩ đến việc tự tìm đến cái chết nữa.

  • Sức sống và niềm tin vào cuộc sống trong Mị trỗi dậy: khi mùa xuân đến với đất trời.
  • Niềm tin sống của Mị còn được thể hiện qua diễn biến tâm lí, hành động của cô trong đêm tình mùa xuân.

⇒ Qua đây ta thấy được niềm khao khát về một cuộc sống hạnh phúc, khát vọng sống luôn tiềm ẩn tận sâu trong tâm hồn nhân vật Mị. Niềm khao khát mãnh liệt này như ngọn lửa vẫn luôn âm ỉ cháy bên dưới lớp tro tàn tưởng chừng như đã nguội lạnh nhưng chỉ cần một làn gió mát thổi qua có thể khiến cho ngọn lửa của niềm khao khát sống đó trỗi dậy mãnh liệt hơn bao giờ hết. Những yếu tố ngoại cảnh góp phần lớn vào việc thổi bùng lên ngọn lửa sống trong Mị, song, sức mạnh tiềm tàng từ trong chính tâm hồn nhân vật mới là yếu tố có sức mạnh quyết định đến sức sống, tinh thần tha thiết của sống của nhân vật Mị.

- Hành động cứu A Phủ và cùng nhau chạy trốn cho thấy lòng thương người, cảm thông cho một số phận cũng nghèo khổ như mình. Phân tích diễn biến tâm trạng của Mị khi cứu A Phủ và quyết định cùng chạy trốn:

  • Ban đầu, Mị dửng dưng hơ tay trước đống lửa và không hề quan tâm đến A Phủ.Khi Mị trông thấy dòng nước mắt của A Phủ, thì dường như trái tim đầy thương tích của Mị lúc này đã được hồi sinh.

  • Hành động chạy theo A Phủ của Mị như chứng minh cho việc tự mình thoát khỏi sợ trói vô hình của cường quyền.

1.3. Kết bài và tổng kết vấn đề

Giá trị nội dung: Tác phẩm “vợ chồng A Phủ”  mang đến những giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc, cụ thể:

-Giá trị hiện thực: “Vợ chồng A Phủ” phản ánh bộ mặt của chế độ phong kiến khắc nghiệt, tồn tại ở miền núi, với những định luật hà khắc, tàn ác, những cảnh sống bóc lột như địa ngục trần gian, nạn cho vay nặng lãi, cảnh phạt vạ, xử kiện bất công, đàn áp cả về tinh thần lẫn sức lao động của người dân hiền lành, đồng thời tác phẩm cũng phản ánh đời sống cơ cực của người nông dân thấp cổ bé họng, điển hình là nhân vật Mị và A Phủ làm nô lệ trong nhà thống lí Pá Tra.

Tác phẩm đã thành công trong việc phản ánh quy luật tự nhiên của đời sống, có áp bức ắt có đấu tranh, Mị và A Phủ khi đã đến giới hạn của sự chịu đựng đã vùng lên qua chi tiết Mị cởi trói giải cứu A Phủ, chạy lên Phiềng Sa gặp cán bộ cách mạng.

-Giá trị nhân đạo: “Vợ chồng A Phủ” thể hiện cái nhìn yêu thương, cảm thông của nhà văn đối với những số phận bất hạnh của người lao động miền núi, đồng thời phát hiện và ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn tiềm ẩn và sức sống mãnh liệt của họ. Tác phẩm còn là tiếng nói tố cáo giai cấp thống trị miền núi, đàn áp, bóc lột, tước đi quyền được sống hạnh phúc của con người, cũng là tiếng nói đồng tình với sự vùng lên, tìm đường giải phóng bản thân và giác ngộ cách mạng của họ.

Nếu như trong đêm tình mùa xuân, Mị hoàn toàn đơn độc thì bây giờ đã có người ở bên cạnh Mị. Cả Mị và A Phủ đều là những con người có sức sống, niềm khao khát đối với cuộc sống vô cùng mãnh liệt. Khi hai sức sống tiềm tàng vô cùng mãnh liệt đó gặp nhau và hòa chung làm một, thì có thể tạo ra một sức mạnh vô cùng lớn phá tan xiềng xích của cường hào, giải phóng con người khỏi áp bức bóc lột. Đoạn cuối của truyện ngắn "Đi với tôi! Và hai người lẳng lặng đỡ nhau lao chạy xuống dốc núi" như một dấu hiệu cho thấy tương lai tươi sáng sẽ mở ra cho Mị - một người con gái xinh đẹp, tài giỏi, nết na, điều này cũng cho thấy niềm khao khát sống mãnh liệt đã tiếp sức mạnh cho Mị bước ra khỏi kiếp sống làm trâu làm ngựa vô cùng tăm tối, đi từ thung lũng đầy đau khổ ra cánh đồng tươi sáng và tràn đầy niềm vui.

2. Bài văn mẫu phân tích nhân vật Mị trong truyện Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài

2.1 Bài văn mẫu số 1: Phân tích nhân vật Mị

Tô Hoài là một trong những nhà văn đạt được nhiều thành công trong nền văn xuôi hiện đại của Việt Nam. Tác phẩm nổi tiếng của Tô Hoài luôn được lấy cảm hứng từ những vấn đề gần gũi và thân quen nhất trong cuộc sống sinh hoạt thường nhật. Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ là tác phẩm thể hiện cuộc sống và con người của vùng Tây Bắc một cách vô cùng sâu sắc. Qua việc xây dựng nhân vật Mị - nhân vật chính của tác phẩm Vợ chồng A Phủ, tác giả như muốn thể hiện sự khâm phục của mình đối với tinh thần cùng sức sống mãnh liệt của đồng bào vùng cao Tây Bắc.

Ở ngay đầu câu chuyện, nhân vật Mị hiện lên qua cách giới thiệu của tác giả gợi cho người đọc một sự tò mò và vô cùng hứng thú với người con của núi rừng Tây Bắc này. Chỉ bằng những câu chữ vô cùng cô đọng, tác giả đã giúp người đọc hình dung một cách cụ thể về cuộc sống ngập tràn đau khổ của Mị tại nhà Pá Tra.

Hình ảnh một người con gái với ánh mắt và vẻ mặt vô hồn, thiếu sức sống bên cạnh quay sợi, tảng đá, tàu ngựa, cô gái là con dâu nhà thống lí quyền thế và giàu có nhất vùng như lúc nào cũng “buồn rười rượi” là hình ảnh chân thực nhất về một số phận bất hạnh, đau khổ. Mị được rất nhiều chàng trai yêu thương và cô cũng đã trao gửi tình yêu của mình cho một chàng trai làng chân chất thật thà.

Nhưng cuộc sống may mắn, hạnh phúc không đến với Mị, cô gái xinh đẹp và tài hoa đó lại phải chịu một cuộc sống vô cùng đau khổ khi phải bán mình, chịu cảnh làm con dâu gạt nợ trong nhà Thống lí Pá Tra để trả nợ cũ cho cha. Mặc dù sống dưới danh nghĩa là con dâu của một gia đình quyền quý, song, mọi cùng cực của một kẻ tôi tớ Mị đều phải gánh chịu hết khi về làm dâu ở đây. Thân phận của Mị trong nhà Pá Tra không khác gì thân trâu ngựa.

Ngoài nỗi dày vò về thể xác, Mị còn bị đày đọa về tinh thần và dường như không có lối thoát. Một cô gái còn trẻ, mới ngày nào còn khao khát sống, khao khát yêu đương mãnh liệt thì nay chỉ biết lặng câm, "lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa". Hình ảnh Mị chỉ biết ngồi trong một căn buồng kín mít với cái cửa sổ có lỗ vuông bằng bàn tay, trông ra ngoài và lúc nào cũng thấy mờ mờ, không biết là sương hay là nắng là hình ảnh thể hiện rõ nhất cuộc sống bị dày vò cả về thể xác lẫn tinh thần của Mị. Căn buồng đó giống như một phòng giam, không những giam hãm thể xác của một cô gái trẻ, mà nó còn cách li tâm hồn cô với cuộc đời tươi đẹp ngoài kia, kìm hãm tuổi xuân và sức sống của một cô gái trẻ tuổi đời còn phơi phới sắc xuân. Đây như một lời tố cáo về chế độ phong kiến vùng núi rừng Tây Bắc, bởi chế độ đó là làm cạn khô nhựa sống, làm lụi tàn đi ngọn lửa  niềm vui sống của những người trẻ, những người lao động chân chất nơi đây.

Sự đau khổ khi làm thân trâu ngựa ở nhà Pá Tra khiến Mị chỉ muốn tìm sự giải thoát bằng con đường kết thúc sự sống, tuy nhiên, lòng hiếu thảo, tình yêu thương cha vô bờ bến đã níu kéo cô lại với cuộc sống. Khi cha mất đi, thì Mị chỉ như đang tồn tại, buông xuôi và sống như một đồ vật không có cảm xúc. Khi Mị muốn tìm đến cái chết, nghĩa là Mi vẫn còn muốn chống đối lại với cái cuộc sống vô nghĩa, sống không ra sống này, điều đó nghĩa là cô gái vẫn còn thiết tha với cuộc sống đúng nghĩa. Nhưng khi đã buông xuôi, không thiết chống lại bất cứ thứ gì nữa, thì nghĩa là dù cho Mị có làm gì, có đi lên nương hay đi cắt cỏ… thì cũng chỉ như đang tồn tại với cái xác không hồn mà thôi.

bài văn mẫu phân tích nhân vật mị

Mị cứ lầm lũi tồn tại như vậy từ ngày này qua tháng khác, tưởng chừng như con người thật sự của cô đã hoàn toàn chết đi. Nhưng không, niềm khao khát sống mãnh liệt của Mị vẫn còn đó. Đau khổ có thể khiến trái tim cô tổn thương, tâm hồn cô chai sạn, làm vùi lấp đi niềm tin vào cuộc sống nhưng niềm tin đó vẫn tồn tại và không thể nào tiêu tan. Khi điều kiện thuận lợi đến, niềm tin đó sẽ có cơ hội cháy lên. Và đêm tình mùa xuân hôm đó chính là chất xúc tác mạnh mẽ thổi bùng lên niềm khao khát sống mãnh liệt của Mị.

Không khi đêm xuân với gió rét, sắc vàng ửng của cỏ tranh, sự thay đổi màu sắc một cách kì diệu của các loài hoa đẹp đã làm nên một sự dậy sóng mãnh liệt trong tâm hồn Mị - một tâm hồn đã tê dại vì đau khổ trong suốt một thời gian dài. Tác nhân quan trọng khiến cho làn sóng trong tâm hồn Mị mãnh liệt đến vậy chính là men rượu. Say men rượu vừa khiến Mị lãng quên thực tại đau khổ và nhớ về những kí ức tươi đẹp thời còn là một cô gái tươi vui, ham sống, yêu đời và mê thổi sáo. Và quan trọng nhất đó là hơi rượu khiến cho Mị nhớ rằng, cô vẫn là một con người, cô có quyền sống và sống hạnh phúc giống như biết bao con người bình thường khác “Mị vẫn còn trẻ….Huống chi Mị và A Sử, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau”.

Ngay chính lúc đang đấu tranh nội tâm dữ dội, thì Mị nghe thấy tiếng sáo, tiếng sáo lúc này có ý nghĩa thật to lớn, nó như tiếng gọi của mùa xuân, tiếng gọi của tuổi trẻ và của tình yêu. Đây cũng giống như tiếng lòng thiêng liêng của người con gái vùng cao Tây Bắc, là tiếng cảm thán của người con gái được đánh thức sức sống tiềm tàng tưởng chừng như đã chết từ lâu. Cho nên đây là thời khắc cho thấy lòng Mị đầy rẫy những mâu thuẫn. Lòng thì phơi phới trước cảnh vật và âm thanh của đêm xuân, nhưng chân thì vẫn bước vào buồng theo quán tính, ngồi xuống giường và trông ra ô vuông mờ mờ trăng trắng. Và khi lòng ham sống trỗi dậy, thì ý nghĩ đầu tiên nảy ra trong Mị là được chết ngay lúc này bởi đây là cuộc sống giống như cầm tù, sống không bằng chết.

Nhưng lúc đó, không khí náo nhiệt của mùa xuân gần như đã xâm chiếm toàn bộ tâm hồn Mị, Mị như chìm hoàn toàn vào trong ảo giác “Mị muốn đi chơi, Mị cũng sắp đi chơi”. Và ngay lúc đó, Mị mới thực sự có hành động nhất quán với suy nghĩ, đó là quấn lại tóc, với thêm cái váy hoa, rút thêm cái áo… tất cả đều được Mị làm như người bị mộng du, như một giấc mơ.

Cũng chính vì hành động như kẻ chìm vào giấc mơ cho nên Mị không ý thức được A Sử đang bước vào cũng như hoàn toàn không nghe thấy những gì mà A Sử hỏi. Mị vẫn chưa trở về với thực tại, vẫn chìm trong những giấc mơ về một thời xuân trẻ, bồng bềnh trôi trong cảm giác du xuân ngay cả khi bị A Sử trói vào cột. Sợi dây trói mà A Sử siết chặt lên người Mị vẫn chưa thể làm cô gái trở về với thực tại tàn khốc. Mị chỉ thực sự trở về với thực tại khi muốn bước chân theo tiếng sáo nhưng lại cảm thấy chân tay đau không sao cựa được. Và lúc này, Mị lại chập chờn giữa mơ và tỉnh, mơ trong tiếng sáo như thúc giục cô gái thoát ra khỏi cuộc sống đầy đau thương này, tỉnh trong sự đau đớn và tê dại của dây trói không những trói chặt thể xác mà còn giam cầm cả tâm hồn Mị.

Sức sống le lói trong Mị bùng phát hẳn lên thành hành động và nó thể hiện qua việc dứt khoát cởi trói cho A Phủ. Có số phận giống như Mị, A Phủ cũng là một nạn nhân của chế độ phong kiến hà khắc ở vùng núi Tây Bắc. Vì không may xảy ra xô xát với A Sử - con trai Thống lí Pá Tra mà A Sử cũng phải chịu đựng thân phận con ở gạt nợ. Lòng bất khuất, tinh thần khảng khái của người con sinh ra từ núi rừng không cho phép A Phủ chịu khuất phục trước cường hào, điều này đã đẩy A Phủ vào tình cảnh hết sức khốn cùng đó là bị trói đứng. Và hoàn cảnh bi thương của A Phủ đã đánh thức cũng như khơi dậy sự thương cảm trong tâm hồn Mị. Mặc dù mấy hôm đầu Mị vô cảm và thờ ơ trước hiện thực bi thương của A Phủ: "A Phủ là cái xác chết đứng đó cũng thế thôi". Điều khiến cho tâm hồn Mị có những thay đổi mang tính bước ngoặt đó là khi Mị thấy những dòng nước mắt của chàng trai A Phủ. Chính những giọt nước mắt đó đã đưa Mị trở về với những kí ức khi chính Mị bị chói, và nhờ đó, Mị xót thương cho chính mình, xót thương cho cả A Phủ.

Dòng nước mắt lúc này đã làm thức tỉnh Mị, Mị nhận thức được những đau khổ mà chính mình cũng như A Phủ phải gánh chịu trong nhà Pá Tra. Sự tỉnh táo thôi thúc Mị hành động, Mị cởi trói cho A Phủ. Và ngay sau khi cởi trói cho người cùng cảnh ngộ, lòng ham sống được thổi bùng lên trong Mị, và điều đó được thể hiện rõ nét qua hành động bất ngờ chạy theo A Phủ.

Chính nhờ có sự trải nghiệm thực tế về cuộc sống và con người vùng Tây Bắc, tác giả mới có thể tố cáo thế lực phong kiến áp bức, bóc lột, chà đạp lên quyền sống cơ bản của con người một cách chân thực như vậy. Và cũng qua việc xây dựng hình tượng nhân vật Mị, tác giả Tô Hoài đồng thời ca ngợi khát vọng sống, khát vọng tự do hết sức mãnh liệt của những con người nghèo khổ dưới ách thống trị của cường hào phong kiến. Và qua đây tác giả cũng muốn ca ngợi tình đoàn kết, tinh thần giúp đỡ lẫn nhau giữa những người cùng khổ, đây chính là tính giai cấp, tinh thần dân tộc đáng tự hào của người Việt từ bao đời nay.

2.2  Bài văn mẫu số 2: Sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị được thể hiện qua đêm tình mùa xuân

Trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”, Tô Hoài đã thành công trong việc xây dựng và miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật Mị để từ đó ta thấy được một tâm hồn đẹp, khao khát hạnh phúc, nhưng lại phải chịu một cuộc sống khốn khổ. Chính trong cuộc sống bế tắc, giam cầm ấy, ta thấy tiềm ẩn một sức sống mãnh liệt. 

Mở đầu cho khung cảnh mùa xuân ấy, Tô Hoài đã rất tinh tế khi miêu tả khung cảnh đất trời Hồng Ngài. Chính sự thay đổi trong tiết trời mùa xuân ấy đã tác động đến tâm hồn Mị, đó là một mùa xuân rộn ràng thanh sắc, sắc màu của những chiếc váy xòe hoa như những con bướm rực rỡ, tiếng trẻ con nô đùa, có âm thanh của tiếng gió rét thổi vào cỏ gianh vàng ửng. Thiên nhiên đất trời dường như cũng đang nô nức thay da đổi thịt, mang đến những sắc màu tươi mới, dần dà thay dần lớp áo xám xịt của những đêm đông. Mùa xuân của thiên nhiên đã làm náo nức lòng người, đặc biệt là làm dậy lên khao khát của một cô gái trẻ đang bị giam cầm trong một căn phòng chật hẹp.

Mùa xuân là một tín hiệu của đẹp của sự sống, của hạnh phúc, của tình yêu, làm cho lòng người trở nên rộn rã hơn với những niềm tin và khát vọng. Mị cũng từng sống trong những mùa xuân như thế, chính vì từng sống và trải nghiệm, từng cảm thấy hạnh phúc nên Mị lại càng thương nhớ.

Mị cũng từng là một cô gái trẻ xinh đẹp, là bông hoa của miền núi rừng Tây Bắc, từng được bao chàng trai si mê “ngày đêm thổi sáo đi theo Mị”, Mị cảm nhận được niềm vui, niềm hạnh phúc khi được yêu thương. Mị lúc đó yêu đời, yêu cuộc sống, mỗi mùa xuân đến đều tận hưởng trọn vẹn những cuộc vui chơi, hò hẹn, cũng đã từng chờ đợi người yêu trong đêm tình mùa xuân. Tâm hồn cô gái trẻ ấy hồn nhiên, đáng yêu biết bao. 

Thế nhưng, quá khứ càng hạnh phúc thì giờ đây, sống trong cảnh làm dâu nhà thống lí Pá Tra, Mị càng nhớ thương, bồi hồi, rồi lại càng tự thương cho thân phận mình. Đầu tiên, khi cảm nhận được những thay đổi của sự vật khi mùa xuân đã về trên bản làng, đặc biệt là khi nghe tiếng sáo mùa xuân, Mị vẫn cảm thấy tha thiết, bồi hồi, Mị còn nhẩm lại theo lời bài hát. Người đàn bà vô cảm với tất cả, chỉ lẳng lặng làm những công việc thường ngày nhàm chán này đã cảm nhận được tiếng sáo-là âm thanh bình dị của cuộc sống, Mị mở lòng để đón nhận.

Từ sự thay đổi trong nhận thức, Mị đã có những hành động “nổi loạn”, thoát khỏi các xác vô hồn ấy, Mị uống rượu. Mị uống rượu để quên đi hoàn cảnh thực tại, để nén uất ức trong lòng, mặc dù uống nữa uống mãi thì Mị cũng chỉ say rồi tỉnh, sống trong hai thế giới hiện tại và quá khứ. Rượu được xem là chất xúc tác cho ước mơ, khát vọng về hạnh phúc của Mị được bùng phát.

Mị nhìn lại căn phòng mình đang sống, thấy đây đúng là địa ngục trần gian, thứ duy nhất kết nối Mị với thế giới bên ngoài chính là ô cửa nhỏ bằng bàn tay, lại còn mờ mờ. Mị nghĩ về A Sử, con người đã mang đến cho Mị những bất hạnh, Mị căm thù hắn, Mị thà ăn lá ngón để chết đi chứ không buồn nhớ đến hắn.

Từ việc thức tỉnh trong ý nghĩ, cảm thấy tha thiết bồi hồi khi cảm nhận sự thay đổi mà đất trời mùa xuân mang lại, đến việc tìm rượu uống để quên đi hiện tại, giờ đây sự vùng lên của Mị còn được thể hiện bằng hành động cụ thể. Hàng loạt các động từ được Tô Hoài sử dụng để miêu tả sự gấp gáp trong hành động của Mị. Trước tiên, Mị cho thêm mỡ vào đèn cho sáng thêm, rồi  “Mị quấn lại tóc”, “với lấy cái váy hoa trên vách”, Mị muốn làm đẹp cho bản thân, Mị muốn được đi chơi. Sự tự yêu bản thân chính là khởi nguồn của tình yêu cuộc đời, yêu sự sống. Sức sống trong Mị đang dần dần được hồi sinh.

Tuy khát vọng, mong muốn đi chơi của Mị nhanh chóng bị dập tắt bởi sợi dây trói của A Sử nhưng những diễn biến tâm lí của Mị trong đêm tình mùa xuân chính là khởi đầu cho sự tự ý thức và sức sống mãnh liệt, sự tự vùng lên giải cứu cho A Phủ trong đêm đông. Ngay cả khi bị trói, bị giam cầm, nhưng khát vọng của Mị cũng không hề bị dập tắt, Mị không biết mình bị trói, Mị nằm giữa bốn bức tường lạnh lẽo nhưng tâm hồn Mị vẫn mênh mang theo tiếng sáo gọi bạn tình. Mị chỉ bị thức tỉnh khi cơn đau của thể xác lúc này bị dây trói siết lại đau nhức và khi nghe thấy tiếng chân ngựa đạp vào vách.  Mị đau buồn nhận ra “mình không bằng con ngựa”, thực tại hoàn toàn đối lập với thiên đường trong giấc mơ của Mị.

Cuộc trỗi dậy của Mị trong đêm tình mùa xuân giống như một đợt sóng tràn ra, mặc dù nó không trực tiếp làm thay đổi cuộc đời Mị lên một bước tươi sáng hơn nhưng chính là khởi điểm về nhận thức cho Mị để rồi có hành động cởi trói cho A Phủ trong đêm mùa đông. Qua nghệ thuật xây dựng tình huống và miêu tả nội tâm nhân vật sâu sắc, Tô Hoài đã thành công trong việc thể hiện sức sống tiềm tàng của Mị trong đêm tình mùa xuân.

2.3. Bài văn mẫu số 3: Phân tích nhân vật Mị trong đêm đông cứu A Phủ

Nếu như ở trong đêm tình mùa xuân, Mị mới chỉ bắt đầu le lói ý định được giải thoát, khao khát được vẫy vùng giữa cuộc sống tươi đẹp ngoài kia thì trong đêm đông, sức sống mãnh liệt của Mị đã được thể hiện bằng hành động cụ thể. Cùng phân tích nhân vật Mị trong đêm đông để thấy được khát vọng sống mãnh liệt của cả hai nhân vật Mị và A Phủ cũng như độ chín trong phong cách nghệ thuật của Tô Hoài.

Mị là nhân vật trung tâm trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”, trong tác phẩm này, người đọc không chỉ ấn tượng với một cô Mị cam chịu dù làm bất cứ việc gì cũng cúi gằm, mặt buồn rười rượi, mà còn là một cô Mị khao khát cuộc sống hạnh phúc, cảm thấy tha thiết bồi hồi khi nghe tiếng sáo mùa xuân, một cô Mị dũng cảm dám cứu lấy A Phủ để rồi cả hai cùng chạy trốn trong đêm để đến vùng đất kháng chiến.

Trong tác phẩm, có hai phân cảnh mà ở đó người đọc thấy một cô Mị khác hẳn những ngày thường đó là trong đêm tình mùa xuân và trong đêm mùa đông. Trong đêm mùa xuân, tiếng sáo du dương, tiếng trẻ con cười đùa, những âm thanh, sắc màu rực rỡ của bản làng khi xuân về đã làm tâm hồn Mị náo nức, rộn ràng trở lại. Mị nhớ lại những ngày còn trẻ, còn được tự do, Mị khao khát hạnh phúc, khao khát được đi chơi, Mị thắp đèn cho sáng hay chính muốn tự thắp sáng cuộc đời mình, Mị biết làm đẹp cho bản thân trước khi yêu thêm cuộc sống, Mị muốn đem tâm hồn mình hòa nhập với mùa xuân của đất trời.

Thế nhưng trong đêm mùa xuân ấy, khao khát của Mị đã không được thực hiện bởi sự giam cầm của A Sử. Sau cái đêm màu xuân ấy, tâm hồn Mị lại nguội lạnh, Mị lại trở thành một con người vô cảm, tiếp tục cuộc sống trâu ngựa của mình, cái khổ cái nhục mà hàng ngày Mị phải gánh chịu giống như một lớp tro tàn phủ khuất sức sống tiềm tàng trong Mị. Và chính bởi lớp tro tàn đó mà Mị cần phải có một luồng gió để thổi tan đi, khi ấy ngọn lửa sống sẽ bùng lên mạnh liệt. Và sự xuất hiện của A Phủ chính là chất xúc tác cho Mị có động lực tự thổi bay lớp tàn tro che phủ cuộc đời Mị.

A Phủ là một chàng trai siêng năng, chăm chỉ, cũng là người làm trong nhà thống lí Pá Tra, chỉ vì con hổ ăn mất một con bò mà bị trói đứng cho tới chết. Sinh mạng của một con người không được coi trọng bằng con vật, và không chỉ A Phủ mà bất cứ ai trong căn nhà ấy cũng đều có thể bị trói đứng đến chết như vậy. Đây chính là hiện thực tàn khốc, khắc nghiệt của chế độ thống trị ở vùng núi cao Tây Bắc đã được Tô Hoài tinh tế nhìn nhận và ghi chép lại.

Diễn biến tâm lí nhân vật Mị mới chính là nét độc đáo thể hiện sự chín muồi trong ngòi bút xây dựng tâm lí nhân vật của Tô Hoài. Dường như mọi hoàn cảnh, mọi cảm xúc đều hỗ trợ đắc lực cho quá trình vùng lên, tìm đến sự sống của Mị.

Lúc đầu, khi có ý định ra ngoài bếp lửa sưởi lửa hơ tay, Mị không có ý định gì nhiều, chỉ định làm ấm cơ thể trước cái lạnh cắt da cắt thịt của mùa đông trên vùng cao. Khi nhìn thấy A Phủ bị trói đứng, Mị cũng hoàn toàn dửng dưng vì sự việc ấy không còn là điều mới mẻ hay xa lạ trong nhà thống lí. Cứ từng đêm, từng đêm trôi qua, Mị vẫn thản nhiên hơ tay sưởi lửa, có nhìn thấy A Phủ bao nhiêu lần đi nữa cũng thế thôi. 

Nhưng một đêm nọ, khi Mị hé mắt nhìn A Phủ, cũng vừa hay bắt gặp ánh mắt của A Phủ vừa hé mở, Mị nhìn thấy dòng nước mắt chảy xuống má A Phủ. Đó là giọt nước mắt của sự bất lực, giọt nước mắt đáng thương của một chàng trai còn đang ở độ tuổi đẹp nhất của cuộc đời, khao khát cuộc sống, đam mê những vui say trong cuộc đời nhưng lại bị cầm tù, trói buộc mà bản thân thì bất lực không thể làm gì được. Chính giọt nước mắt ấm nóng ấy đã thức tỉnh nhận thức của Mị, xua tan sự giá băng trong tâm hồn Mị, lòng Mị chợt bồi hồi chứ không còn lãnh cảm như những đêm trước nữa.

Trước tiên, Mị nhìn cảnh A Phủ bị trói mà Mị cảm thấy đồng cảm vì chính Mị cũng từng bị trói đứng như vậy trong đêm tình mùa xuân. Không chỉ thương cho Mị, thương cho Mị, Mị còn nhớ đến câu chuyện về người đàn bà từng bị chết vì bị trói đứng trước kia. Khi biết cảm thương cho những người cùng cảnh ngộ, Mị bắt đầu căm hận thế lực đã gây nên tội ác ấy. Đó chính là cha con nhà thống lí Pá Tra, chỉ vì một con bò bị hổ ăn mất mà định lấy mạng một con người.

Khi đã nghĩ miên man về nhiều chuyện, Mị nhìn nhận về hiện tại, cảnh khốn cùng của cả Mị và A Phủ, tận cùng của sự cùng cực, Mị còn nhìn thấy tương lai về một cái chết. Bản thân Mị sẽ phải sống trong căn nhà này đến cuối đời mà không cách nào thoát ra được, rồi cũng chết rũ xương ở đây mà thôi. Còn A Phủ, Mị nhìn thấy một cái chết đau, chết đói, chết rét và chắc chắn là sẽ chết. 

Khi nhìn nhận về tương lai đen tối của cả hai, Mị cay đắng, xót thương. Từ sự thương cảm đó, cảm xúc trong Mị chuyển thành căm phẫn, Mị nhận thấy sự bất công cho A Phủ. Mị muốn cứu A Phủ, Mị đã nghĩ về cảnh sẽ phải chết thay cho A Phủ nhưng Mị không sợ điều đó, Mị vẫn dứt khoát dùng dao cắt lúa để cắt dây trói cho A Phủ. Dây trói ấy giống như cái bóp nghẹt của chế độ cầm quyền lên những người dân vô tội, Mị cắt đứt dây trói giống như đang dũng cảm phá tan cường quyền, chính Mị còn bất ngờ về hành động đó của mình. 

Khi cắt dây trói xong, Mị chỉ kịp nói lên một tiếng “đi ngay” giống như một mệnh lệnh, cũng là lời thúc giục, chứng tỏ sau khi cắt dây trói xong, Mị hoàn toàn nhận thức được hành động mình đang làm và không hề hối hận vì việc đó. Khi A Phủ vụt chạy đi, Mị đứng lặng trong bóng tối, chỉ một vài giây đứng lặng ấy thôi, nhưng trong lòng Mị biết bao tâm lí ngổn ngang, Mị không biết nên chạy theo A Phủ hay ở lại, ở lại, Mị sẽ phải chịu chết thay cho A Phủ.

Cuối cùng, con tim và lí trí Mị đã chọn chạy vụt theo A Phủ. Bước chân ấy chạy miệt mài trong đêm, bước chân mạnh mẽ đạp đổ cường quyền, chạy thoát khỏi những áp bức bóc lột đã đè nén Mị suốt bao năm tháng qua, chạy theo khát khao sự sống, khát khao hạnh phúc. Khi đuổi kịp A Phủ, Mị chỉ kịp nói ra tiếng lòng của mình “A Phủ, cho tôi đi! Ở đây thì chết mất”. Đó là lời nói khao khát của Mị, khao khát được sống, khao khát được tự do.

Hai người đã cùng nhau rời khỏi Hồng Ngài, nơi chứa đựng niềm vui thì ít mà những buồn khổ, cơ cực, bất công chèn ép, che phủ sức sống của con người thì nhiều. Mị và A Phủ rời khỏi Hồng Ngài, đi đến Phiềng Sa, bắt đầu những chuỗi ngày có thể chưa biết tương lai ra sao nhưng chắc chắn đã thoát khỏi cuộc sống không bằng chết ở đất Hồng Ngài ấy.

Như vậy, qua việc phân tích nhân vật Mị trong đêm đông giải cứu A Phủ, ta thấy được sức sống tiềm tàng giúp Mị vượt qua số phận đen tối của mình. Bằng một trái tim nhạy cảm, yêu thương con người, và ngòi bút tài hoa, Tô Hoài đã phát hiện ra ngọn lửa ngời sáng trong trái tim Mị. 

Qua nhân vật Mị, ta thấy được sự đồng cảm của Tô Hoài với những kiếp sống lầm lũi, bị chèn ép đến mức lãnh cảm, che lấp đi những khát khao sống của con người, thấy được một hiện thực xã hội phong kiến ở vùng núi cao tàn ác. Càng đọc tác phẩm, và đi sâu vào phân tích nhân vật Mị, ta càng thấy trân trọng khát vọng sống của con người hơn. 

>> Tham khảo ngay:

Gia sư nổi bật
Nguyễn Thị Hoa  Hà Nội
Nguyễn Thị Hoa Gia sư môn:  Toán , Hóa Từ: 150,000 vnđ/buổi
Lý Thị Kim Hà  Hồ Chí Minh
Lý Thị Kim Hà Gia sư môn:  Toán , Lý , Hóa Từ: 200,000 vnđ/buổi
no image  Hà Nội
Nguyễn Thị Thoa Gia sư môn:  Toán , Tiếng Việt , Luyện chữ đẹp Từ: 150,000 vnđ/buổi
no image  Hà Nội
Hoàng Khánh Chi Gia sư môn:  Toán Từ: 120,000 vnđ/buổi
Đỗ Thị Thuý Hiền  Hà Nội
Đỗ Thị Thuý Hiền Gia sư môn:  Toán Từ: 150,000 vnđ/buổi
Đoàn Thị Huyền  Hà Nội
Đoàn Thị Huyền Gia sư môn:  Toán Từ: 120,000 vnđ/buổi
no image  Hà Nội
Vũ thị Phượng Gia sư môn:  Lịch sử Từ: 150,000 vnđ/buổi
Xem thêm gia sư  

Hotline

0869.154.226

1
Bạn cần hỗ trợ ?