home-logo.png
 Tìm kiếm nâng cao

Phân tích bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm

  By   Administrator   23/12/2019

Trong suốt chiều dài lịch sử văn học Việt Nam. Ở mỗi thế kỷ đều có những tác giả tiêu biểu và xuất sắc. Nếu như ở thế kỉ XV đã vinh danh tên tuổi của Nguyễn Trãi là một đại thi hào của dân tộc, thì đến thế kỉ XVI người đời lại biết đến nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm như một cây viết xuất sắc trong  thời kì văn học trung đại và có một vị trí riêng trong nguồn mạch phát triển của thơ ca tiếng Việt. Các tác phẩm của ông mang những trăn trở, thâm trầm về triết lý cuộc sống và thời đại bấy giờ . Nổi bật nhất là tác phẩm “Nhàn”. Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã gửi gắm các triết lý, tư tưởng, quan niệm về lối sống “nhàn” của mình vào bài thơ để đến ngày nay các giá trị đó vẫn tồn tại và khiến người đọc phải suy ngẫm.

Phân tích bài thơ Nhàn

Khi chúng ta nhắc đến tên tuổi của những danh nhân Việt Nam với lòng yêu quê hương đất nước hẳn là sẽ không quên được cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), tự Hanh Phủ quê ở làng Trung An, huyện Vĩnh Bảo ( Hải Phòng ngày nay). Ông là người có học thức uyên sâu, đã đỗ Trạng nguyên và làm quan dưới triều nhà Mạc. Trong cuộc đời 8 năm làm quan của mình, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã từng dâng sớ xin chém 18 vị lợi thần nhưng không được nhà vua chấp nhận. Sau đó, ông đã xin từ quan, bỏ về quê cũ lấy danh là Bạch Vân cư sĩ để mở lớp dạy học. Học trò của ông cũng có rất nhiều người tài giỏi vì vậy ông cũng được suy tôn là Tuyết Giang phu tử (người thầy của sơn tuyết). Nguyễn Bỉnh Khiêm đã để lại cho đời một khối lượng tác phẩm đồ sộ bao gồm tập Bạch Vân Am Thi Tập gồm 700 bài thơ được viết bằng chữ Hán và Bạch Vân Quốc Ngữ Thi được viết bằng chữ Nôm gồm 170 bài thơ. Một trong những tác phẩm tiêu biểu trong số đó là bài thơ “Nhàn”.

Cũng như nỗi lòng của nhà thơ Nguyễn Trãi được giãi bày trong tác phẩm “Cảnh ngày hè”. Mong muốn tìm cho mình một nơi thanh tịnh không màng tới chuyện đời mà sống hài hòa với thiên nhiên. Nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm cùng từ giã chốn quan trường để tìm kiếm thú vui của riêng mình. Tìm đến cuộc sống giản dị- sống thật sự như một lão nông nghèo, thuận theo quy luật thiên nhiên đất trời để nuôi dưỡng tâm hồn, gìn giữ cốt cách của mình. Nguyễn Bỉnh Khiêm hoàn toàn ở trong vị thế ung dung, tĩnh tại và hoàn toàn vui vẻ, hài lòng với cuộc sống “nhàn”, cách sống “nhàn” mà ông đã tự lựa chọn.

Toàn bộ bài thơ “ Nhàn” được tác giả viết trong thời gian ở ẩn, là chân dung cuộc sống đời thực của thi sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Để lý giải được triết lý sống “nhàn” bài thơ được viết dưới thể thơ thất ngôn bát cú đường luật với cấu trúc: đề, thực, luận, kết.

Với hai câu đề:

“ Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dù ai vui thú nào “

Hai câu thơ đầu được tác giả gieo nhịp 2/2/3. Nhịp thơ thể hiện sự ung dung, an nhàn, tự tại khiến ta hình dung từ hình ảnh của một lão nông chi điền với cuộc sống không vướng chút hào hoa bụi trần nơi Am bạch vân. Ở câu thơ đầu phép điệp từ “một” liệt kê lại những vật dụng: mai, cuốc. cần câu. Mỗi thứ ông chỉ cần có một, những vật dụng này là những vật dụng lao động hằng ngày rất gần gũi đời thường, quen thuộc với nhà nông, rất dễ tìm kiếm và sử dụng.  Dường như ông chỉ cần đến thế thôi, không hề cần “ nhiều” những thứ cao quý hơn. Câu thơ thứ hai chuyển sang tâm thế của tác giả. Từ láy “thơ thẩn” thể hiện rằng người chỉ tập trung chọn cho mình một niềm vui giản dị, tự bằng lòng với lối sống của mình, lối sống “nhàn”. Đại từ vô định “ai” thể hiện sự thờ ơ, hờ hững và không quan tâm đến bất cứ thú vui nào của người khác. Đồng thời, thể hiện sự kiên định khi tự chọn cho mình cung cách sống đời thường, bình dị. Như vậy, chỉ bằng hai câu thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khẳng định tâm thế nhàn hạ và triết lý sống đơn giản của mình. Bỏ xa những đòi hỏi cao sang, thú vui người đời mà chỉ hướng tới những thứ mộc nhất, nông nhất.

Nguyễn bỉnh khiêm

Hai câu thực:

“Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người tìm chốn lao xao”

Hai câu thơ tiếp theo nói rõ hơn về lối sống “nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nghệ thuật đối xứng giữa hai câu thơ: ta dại>< người khôn, vắng vẻ>< chốn lao xao.  Ông tự nhận mình là kẻ dại, kẻ ngu dốt và khen người khôn ngoan. Nhưng thực ra, đây là một cách nói ngược, khi ông khen nghĩa là ông đang chê trách, mỉa mai và khi ông chê có nghĩa là ông đang khen. Đó là tư thế, bản lĩnh và sự ngạo nghễ của tác giả khi nói về quan điểm và triết lý sống của mình. Ông dại nhưng thực chất là khôn khi tìm nơi vắng vẻ. Nơi vắng vẻ ở đây không phải là tìm nơi rừng núi hoang vu, hẻo lánh mà ông đang ám chỉ nơi chứa sự tự do, nơi thanh sạch không vướng những hào hoa phú quý để có thể di dưỡng tinh thần, gìn giữ cốt cách thanh cao, trong sạch. Còn người khôn tức là kẻ dại, kẻ ngu ngốc khi tìm đến chốn lao xao. “Chốn lao xao” ở đây không phải là chốn ồn ào, đông người mà được hiểu theo nghĩa ẩn dụ, tức là chốn quan trường. Bị quấn vào chốn quan trường tức là bị quấn vào vòng xoáy tham vọng, danh quyền. Một khi con người đã bước vào sự cám dỗ, khó có đường lui, tâm không thanh tịnh thì sẽ dẫn vào cuộc sống của những xô bồ, đấu tranh phi nghĩa, thủ đoạn độc ác mất đi những giá trị và cốt cách căn bản. Bằng giọng nói hóm hỉnh, ông ngợi ca cuộc sống lao động đời thường, bình dị. Cùng với đó là mỉa mai, phê phán lối sống nơi thị phi, vụ tính toán lợi, ham mê tiền tài danh vọng. Lối sống làm mất đi bản chất thanh cao của con người, chỉ hướng đến những xấu xa, bụi bẩn của những người thuộc tầng lớp nho sĩ bấy giờ. 

Quả là, đối với cuộc sống hằng ngày, chúng ta rút ra được bài học sống thanh thì tâm tịnh. Cuộc sống có thanh sạch thì tâm với an nhàn, vui vẻ. Tiền tài, danh vọng chỉ sinh lòng đố kỵ tham lam. 

Hai câu luận:

“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao”

Hai câu thơ vẽ ra một bức tranh cuộc sống hòa hợp với thiên nhiên tứ bình với bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông. Về ăn, ông ăn uống rất đơn giản, đạm bạc, mỗi mùa lại có một loại thức ăn tương ứng “ Thu ăn măng trúc đông ăn giá”. “Măng, giá” là những thứ vốn có, dễ trồng và dễ tìm kiếm. Là những món ăn thanh đạm, quen thuộc với bữa cơm nhà nông. Về sinh hoạt, ông xuân thì “tắm hồ sen” hạ thì “tắm ao”. Cách sinh hoạt cũng rất đỗi dân dã. Hồ sen hayao đều là những thứ gắn liền với hình ảnh của quê hương đất nước. Tác giả tìm đến nguồn thức ăn thanh sạch, không phải là những sơn hào hải vị nhưng lại mang đậm hương vị quê nhà, chan chứa bản sắc dân tộc. Đây là cách để ông sống từ ngày này qua ngày khác, cách để ông di dưỡng tâm hồn, bảo vệ sự trong sạch. Qua hai câu thơ, chỉ với vài nét Nguyễn Bỉnh Khiêm đã vẽ ra một bức tranh tứ bình về cuộc sống hòa hợp giữa con người và thiên nhiên. Đồng thời thể hiện tình yêu thiên nhiên gắn liền với tình yêu quê hương đất nước, yêu bản sắc dân tộc. Tuy rất giản dị nhẹ nhàng nhưng thanh cao vô cùng.

Hai câu kết:

“ Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”

Hai câu thơ cuối thể hiện vẻ đẹp nhân cách của nhà thơ. Trong các tác phẩm trung đại, người ta thường sử dụng điển cố, điển tích. Nếu như trong tác phẩm “Cảnh ngày hè” sử dụng điển cố nói về ngư cầm – cây đàn của vua Ngu Thuấn thì trong tác phẩm “Nhàn” đặc biệt là ở trong hai câu thơ cuối này có nhiều người cho rằng sử dụng điển tích Thuần Vu Phần. Có nghĩa là liên tưởng đến Thuần Vu Phần một kẻ mơ mộng, ông ta uống rượu say rồi đến gốc cây hòe. Ông ta mơ mình có được giàu sang, danh lợi, vinh hoa phú quý nơi nước Hòe An nhưng khi tỉnh dậy hóa ra tất cả chỉ là một giấc mơ, những thứ mà ông ta chưa từng chạm đến chỉ là những tổ kiến. Quay lại với câu thơ, nghệ thuật liệt kê, kết hợp đảo từ. Đáng lẽ câu thơ phải là “ Đến cội cây ta sẽ uống rượu” nhưng tác giả đã đổi thành “Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống” đồng thời với nhịp thơ 1/3/3 thể hiện tâm thế sẵn sàng ung dung. Nếu “rượu” được coi như vinh hoa phú quý, quyền lợi chốn thị phi thì người thi sĩ ở đây vẫn đứng dưới tâm thế bình tĩnh mà xem “tựa chiêm bao” như của Thuần Vu Phần.

Hai câu thơ bộc lộ rõ nhân cách cao quý của Trạng Trình – Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông là người học rộng, tài hoa, uyên bác. Khác với tiền tài địa vị chưa từng có được của Thuần Vu Phần, ông cũng đã làm quan, có tiền tại danh lợi, vinh hoa phú quý. Nhưng ông không màng tới nữa. Bởi Nguyễn Bỉnh Khiêm nhìn thấy được sự công bằng, chân lí chốn quan trường bị che đậy bởi sức mạnh của đồng tiền, của toan tính của vu lợi. Không cam chịu sự tha hóa, ông quyết tìm cuộc sống giản dị, bỏ qua tất cả ông chỉ xem như là chiêm bao. Ông nhìn thấy triết lý sống của mình, muốn gìn giữ thanh cao, thoát khỏi những ô uế trần tục. Sự khoan thai, đĩnh đạc, tâm thế chủ động đối với “rượu” – vinh hoa phú quý càng làm toát lên cốt cách, nhân cách đáng ngưỡng mộ của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông ngợi ca sự bình dị, thanh bạch bao nhiêu tức là phê phán, mỉa mai thói sống tham danh tham quý bấy nhiêu. Đó là lý do mà người đời dành cho ông nhiều sự tôn quý. 

Như vậy, bài thơ “Nhàn” là một tuyệt tác nghệ thuật của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng là kho tàng quý giá của nền văn chương dân tộc. Bài thơ nêu rõ sự bản lĩnh, ngạo mạn trong lý triết sống “nhàn” của mình để lại ấn tượng sâu sắc đối với người đọc người nghe Từ đó, thấy được sự thanh cao và phẩm chất đáng ngưỡng mộ của người. Liên tưởng đến thực tại, bài thơ để lại cho chúng ta bài học đáng suy ngẫm về lối sống và phong cách sống hiện nay.

Gia sư nổi bật
no image  Hà Nội
Mai Quỳnh Anh Gia sư môn:  Thương lượng
Lê Thị Thủy  Hà Nội
Lê Thị Thủy Gia sư môn:  Toán , Tiếng Anh Thương lượng
Nguyễn Quang Chiến  Hà Nội
Nguyễn Quang Chiến Gia sư môn:  Toán , Lý Từ: 170,000 vnđ/buổi
lê thanh danh  Hồ Chí Minh
lê thanh danh Gia sư môn:  Toán , Lý , Hóa Từ: 200,000 vnđ/buổi
no image  Hà Nội
Nguyễn Minh Hiếu Gia sư môn:  Tiếng Anh Thương lượng
Trương Thị Hoa  Hà Nội
Trương Thị Hoa Gia sư môn:  Toán , Tiếng Anh , Tiếng Đức Từ: 120,000 vnđ/buổi
Phạm Thị Thu An  Hồ Chí Minh
Phạm Thị Thu An Gia sư môn:  Toán , Lý Từ: 200,000 vnđ/buổi
Xem thêm gia sư